Gõ tìm nội dung có liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Ký sự lính trinh sát chiến trường K

....
Mầy còn nhớ KàTum ?
những đêm mưa giăng trên cánh rừng gió nồng hương trảng cỏ
đồng đội mấy thằng giờ vẫn nằm trên đó
từ trận mở đầu chiến dịch Vạc-xa 

(*) 22 tháng 12 (1977)
....
Có một bài trường ca với những câu mở đầu như thế, mà gần 30 năm nay...viết mãi chưa xong. Một món nợ...!

KÀ TUM 18/12/1977
Sau một thời gian ngắn mừng (hụt) tưởng như hoà bình đã trở lại cho dân tộc sau bao nhiêu năm ngoại thuộc và huynh đệ tương tàn thì lại nổ ra cuộc chiến tranh biên giới Tây-Nam.
Ngày đó tôi là một chú bộ đội 19 tuổi, sau thời gian đào kênh ở đồng Tam Tân - Lê Minh Xuân...xây dựng những công trình đầu tiên theo hình thức XHCN thì...được lịnh cùng đơn vị lên đường.

KàTum lúc đó khu vực sát biên giới cũng là vùng kinh tế mới. Dân KTM và dân bản địa hồi hương đang sống những ngày đầu rau củ thì lính K'Mer đỏ tràn sang....lúc đơn vị tụi tui đến thì làng xóm đã bị đốt cháy hoang tàn, đến những cái chén tụi nó cũng đập nát ! Đồn biên phòng (do công an vũ trang - quân hàm xanh đóng) đã bị đánh chiếm.

Lần chết hụt đầu tiên:
Tôi thuộc đơn vị trinh sát, có nhiệm vụ tìm đường và nắm tình hình địch để hướng dẫn cho các đại đội bộ binh oánh.
Và trinh sát của trinh sát lại là một chú dân quân (chử chú ở đây xin hiểu là thuộc hàng em của cha) chừng 50 tuổi, mặc áo dài tay mà quần tà lỏn đen, trang bị một cây M16 với 2 trái da láng M67. Khi hỏi vì sao chú rành đường ở khu vực nầy thế thì ổng thật tình nói (hình như gần lúc sinh tử thì con người ta cởi mở chân thành với phe ta hơn !):
- Thì từ nhỏ tao đã theo ông già qua bễn mua trâu bò lậu tới giờ nên tao phải biết những con đường mà không ai trong chính quyền các phe biết mới được chứ mậy.
Tuy nhiên, nhiệm vụ của chú ấy được kết thúc khi chúng tôi đến đường biên và gặp một xác chết nằm vắt ngang đường lộ (chú phải về để dẫn đường cho một mủi khác). Từ đây chúng tôi phải tự dò đường. Xác chết đã héo khô chắc là của một người dân Campuchia vì trên tay còn một cây chà gạt (giống như rựa nhưng ở mủi có móc nghéo) theo kiểu người Miên.
Khi tôi vượt qua xác chết chừng 20 mét thì nghe tiếng gọi khẻ nhưng khẩn thiết của anh C. B trưởng từ phía sau:
- P.!...P.!... quay lại, tôi thấy anh ra hiệu cho tôi ngồi xuống tại chổ và không được di chuyển gì nữa (theo thủ hiệu của dân trinh sát).
Cả toán (chừng 15 người) cũng ngồi im tại chổ dọc theo con đường mòn.
Chỉ một mình anh C. một tay vừa chụp một trái M 67, tay kia vừa xỏ lại chốt an toàn của nó và ra hiệu chỉ cho tôi biết là mình vừa đá trái lựu đạn. Sau đó tôi mới biết là do tụi Miên lại dùng chính cái chốt của trái M 67 (là một chốt như chốt la vette - cọng thép tiết diện bán nguyệt bẻ gập đôi), bẻ thẳng ra và gài lại, sợi thép màu cỏ úa một đầu cột vào chốt, một đầu kéo qua đường cột vào nhánh cây bên kia. Ai đi ngang đá sợi dây thép sẽ kéo chốt sút ra và ....BÙM...thế nhưng một phần cho cái chốt hơi nhám, một phần do trái lựu đạn buộc trong gốc cấy không chặt nên khi bị tôi đá thì nó vừa lăn ra và cái chốt chỉ mới rút ra được 90%...thì anh C. (đi sau tôi) kịp đến và chụp lại. Chứ còn chơi theo kiểu VC và VNCH là thay cái chốt bằng cây kin gút nhỏ trơn láng thì chết chắc 100% rồi. Chính một chút xíu công nghệ đó mà tui ...
Sau đó cũng một mình anh C. từng bước, từng bước...anh dò dẩm quanh khu vực hai bên đường và gở được tổng cộng 6 trái M 67 nữa ở đoạn mà tôi đã vượt qua.
Thì ra kiểu gài của tụi nó là : Một trái giữa đường và 6 trái, mổi bên 3 trái hai bên đường, để khi người đầu dính thì theo chiến thuật mọi người phía sau sẽ tản ra hai bên và ....lãnh đủ !!!
Cho tới bây giờ...tôi vẫn không hiểu,...nhờ anh C. thì rỏ ràng rồi, nhưng...

________
(*) Địa danh khu vực đồn biên phòng Kà Tum.


Mầy còn nhớ phum Buông Th' Mây
nắng khô trắng bụi đường mà những tàn cây xơ xác quá !
cánh đồng nằm thở hơi chiến tranh hăng nồng mùi đất lạ
bên kia truông mây cuối trời xây thành
đàn bò đứng bên đường ngơ ngác
nhìn đòan quân lại vội đi…về hướng…hòang hôn


Trận tái chiếm đồn biên phòng Vạc xa được khai hỏa cùng tòan mặt trận vào lúc 5 giờ sáng ngày 22/12/1977.
Lính trinh sát tụi tui, sau khi cùng trinh sát trung đòan và TS Quân khu xác định được đường đi nước bước, thì tổ của tui, 3 thằng được điều về phối thuộc dẫn đường cho đại đội 1 có nhiệm vụ đánh vòng chặn hậu đường rút chạy của địch (chưa đánh đã tính chuyện địch chạy - ngon hôn). Trong khi hai đại đội kia đánh vổ mặt công kiên ( tấn công điểm kiên cố là đồn biên phòng hiện do một đơn vị địch chiếm giữ). Mấy thằng tui vừa dẫn bộ binh vòng qua trái (mặt trận chính) chừng 500 mét đến lộ Trần Lệ Xuân ( đây là con lộ cắt dọc biên giới VN-Kam. từ Thiện Ngôn qua Lò Gò, Xóm Giữa, Xa Mát, Kà Tum rồi qua địa phận Bình Long do cựu phu nhân cố vấn Ngô Đình Nhu cho làm để khai thác gổ hồi nẵm…) thì đụng một chốt chặn của địch. Rừng đọan nầy khá rậm, cây chồi và cỏ tranh mọc dầy đặc, cánh nhau 5 mét thì không thấy nhau gì cả…Cả đội chỉ bị có một chốt chặn chừng 3 - 5 tên lính K với hỏa lực chính là một khẩu đại liên hai càng (hình như MG 63 của Đức QUốc Xã) nhưng không thể lên được. Phần vì địa hình không thể quan sát, bọn K lại ở trong hầm kiên cố có ngụy trang kỹ nên không thể thấy vị trí của chúng, phần vì tên xạ thủ đại liên là lọai thứ thiệt, không nổ tán lọan (dễ bị phát hiện) mà chỉ điểm xạ từng 2, 3 viên một rất chính xác nên cả đại đội bị ghìm lại hai bên đường. Tôi đúng ra, ngòai nhiệm vụ chính là dẫn đường thì không bắt buộc phải đánh đấm gì (đây là chuyện của bộ binh), nhưng thú thật, một phần vì rành địa hình (đã qua lại khu vực 3 lần), phần vì "ham vui" nên chui xuống mương đất hai bên đường mà bò lên…đến khi thấy được cái đầu của một thằng quấn khăn rằng, lấp ló, lắt lư…thì…quá gần, gần đến độ tôi nhìn thấy cả tròng mắt của nó ! Trong khi đó thì thằng bạn bò sau tui mang cây B40 chưa biết cứ loi choi gây ra tiếng động, may mà bọn K tập trung bắn bên kia đường vì bên ấy hào sâu hơn nên mấy chàng bộ binh đều tiến theo hướng đó…Tui quay lại ra hiệu và nói khẻ với thằng bạn tên H. là:
- Tụi nó ở trong hầm ngay phía trước, khi tao nổ súng thì mầy chạy vòng qua gò mối ngang hông và bắn B 40 vào bọn chúng nhé…
Cuối cùng chuyện đến cũng phải đến, lúc thấy mắt tên lính K sáng lên vì thấy mình thì tui siết cò khẩu AK của mình trước, bắn trong tư thế nằm sát đất, khẩu súng quay cho băng đạn nằm ngang [đây là một tư thế bí truyền của các bộ đội lão làng, với tư thế nầy, khẩu AK bắn liên thanh sẽ không bị giật mạnh lên trời (ở những viên từ thứ 2 trở đi) mà chỉ dạt ngang nhẹ và đường đạn sẽ là đã ngang mặt đất, không bắn chim. Có dịp các bạn thử xem, đã lắm !]…chừng nửa băng đạn thì cát đất và lá cây tung mù tơi tã…nhưng bọn địch thì hình như….không sao! Nên, sau chừng vài giây định thần thì họng đại liên quay qua chổ tôi, cũng từng nhát chát chúa, đỉnh đạc, đường đạn căng xĩa te tua mấy nhánh cây trên mặt tôi, tôi nằm sát đầu sát đất…chẳng dính viên nào, khi đó thì thằng H. mới chịu đứng dậy vận động và…lãnh nguyên một tràng… nó té xuống, đất xung quanh nó văng lên tứ tung như trong phim…tui nghĩ thầm, chắc mình thằng nầy như cái rổ rồi.!..
Thế nhưng không hiểu sao bọn K lại không bắn tiếp (có thể nó quay sang chăm sóc sóc thằng bị thương, vì tui nghe có tiếng rên). Trong khi đó thì thằng bạn ăn đạn của tui lại cũng rên:
- P. ơi !....tao bị thương rồi.
- Ở đâu ? tôi ngạc nhiên hỏi (vì tưởng nó tiêu rồi)
- Ở chân nè - nó vừa nói vừa nhăn nhó ôm bắp chân đẩm máu. Một ( và chỉ một mà thôi) viên đạn đã xuyên qua phần mềm cẳng chân dưới của nó. Đúng là thần Kim Quy độ mạng.
- Mầy nằm im đi, tụi nó còn đó.
Tôi nói, rồi bật dậy chạy bọc qua cái gò mối to cách chổ tôi nằm chừng 5 mét. Ở đó, thằng bạn thứ 3 trong nhóm đang núp với khẩu AK, mặt tái mét khi thấy tui và thằng số 2 bị thịt. Tôi nói với thằng Ba gà mổ (nó tên Ba còn gà mổ là biệt danh vì nó đá banh giỏi nhưng mà hay chơi xấu, cứ hay mổ vô giò đối phương).
- Tụi nó ở hầm đàng trước, tao sẽ bọc ngang hông trong đám cỏ tranh cao, mầy bắn giùm một lọat để tao định vị (khi tụi nó bắn lại) quăng quả lựu đạn. Thằng B40 bị thương rồi !
Tui vòng lên, chui qua sâu trong đám cỏ tranh nhưng chờ mãi mà không nghe thằng BGM nổ súng gì cả ! mặc kệ, tui rút chốt và tương đại một quả lựu đạn. Sau tiếng nổ thì bên kia đường cũng đồng lọat nổ súng và tôi nghe tiếng XUNG PHONG của anh Nhiễn (nhân vật nầy tôi sẽ nói tiếp phần sau, rất độc đáo) C trưởng. Tuy nhiên khi đến được hầm thì tụi K đã chạy mất đất từ hồi nào !
Thằng Ba gà mổ dẫn đơn vị đi tiếp còn tui phải hộ tống mấy bạn TNXP tải thương cáng thằng H, về phía sau.
Kết quả trận tái chiếm đồn biên phòng Vạc xa thế nào ? Buổi đầu đường vào chiến trường K ra sau ?...mời các bạn xem hồi sau sẽ rỏ.

Trở lại Phum Th' Mây.

Khi hộ tống thằng bạn bị thương về đến điểm tập kết thương binh và tử sĩ thì trời đã nhá nhem chiều. Mấy ngày liền mất ngủ cộng với cả ngày quần thảo...đến lúc nầy tôi mới thấm đòn...vừa ngồi xuống dựa vào gốc cây thì máu mủi cứ từ từ chảy ra (chắc do người nóng quá). thằng Lưu, dân sinh viên ĐH khoa học đang học năm thứ nhất, xung phong viết huyết tâm thư tình nguyện lên đường bảo vệ tổ quốc, giờ đang làm ở tổ Chính Sách tiểu đoàn vì...sau lần nổ súng đầu tiên, nó mới phát hiện ra một chân lý rằng: Nó sinh ra là để làm việc bằng trí óc chứ không phải để oánh nhau ! vì cứ hể nghe tiếng súng là tay nó run lên, không làm gì được còn chân thì muốn khuỵu xuống, chạy không nỗi...! Nhưng nếu ai nói nó nhát thì tôi sẽ phản đối ngay vì, khi biết được "đặc điểm" của mình thì nó lại thẳng thắn, dũng cảm nói ngay với cấp chỉ huy và cũng tình nguyện nhận nhiệm vụ nấu cơm và lo mọi việc phía sau cho anh em. Nó làm mọi việc vất vả một cách chu đáo, ngon lành...và sau nầy, khi có lần chốt tụi tui bị cô lập ở Sa Mát thì cũng chính nó, một mình đã liều mạng đem thức ăn lên cứu đói cho tụi tui. Chuyện Sa Mát thì về sau sẽ trở lại, còn lúc đó thì chính thằng Lưu đã chạy đi bẻ một cây mía, xước bằng hàm răng của nó rồi đưa cho tôi ăn "bồi dưỡng"...chất ngọt đường thì bổ một, mà tình bạn thì bổ tới bây giờ cũng còn...
Tối hôm đó, có một đoàn 3 chiếc xe tải chở đạn và tiếp liệu cho phía trước đến ngang chổ tụi tui. Do họ không biết đường nên có nhờ và tui tình nguyện dẫn họ lên. Thiệt tình thì một phần cũng vì việc chung, nhưng cái chính là nếu ở lại thì phải ngủ chung với mấy các xác tử sĩ thì...thật không hấp dẫn tí nào...

Về trận đánh lúc sáng thì nổ súng lúc 5 giờ, đến 8 giờ thì tiểu đoàn tụi tui đã đánh bật bọn K và chiếm lại được đồn biên phòng. Bên mình hi sinh hai. Tụi K chạy hết, để lại 1 xác.
Cũng nên nói thêm là về thể lực thì dân K'mer mạnh hơn dân Duôn (VN) nhiều. Một thằng nó, cõng một thằng (chết hay bị thương) chạy ngon lành. Còn mình thì 2 thằng khiêng một thằng. Còn TNXP thì 4 em (gái) khiêng 1 anh (2 em khiêng, 2 em chạy theo, chùng vài trăm mét thì đổi khi bị rượt. Bình thường thì vừa đi vừa nghỉ). Cho nên việc thấy được xác chết hoặc bắt được lính K. bị thương là điều rất hiếm.
Đơn vị nhận thông báo được thưởng Huân Chương chiến công hạng nhì !
Đoàn xe chạy gần đến đồn thì phía trước có sự cố. Giữa đường một chiếc tải của đơn vị bạn chạy trước tụi tui chừng 15 phút cán nhầm một trái mìn chống tank. Một chàng ham vui đứng bám bên hông xe chổ ngang bác tài (bánh xe trước bên tài cán mìn) bị thổi lên và khi rớt xuống thì cặp giò đã gảy nát. May mà đoàn xe của tụi tui chiếc cuối là một chiếc Jeep của tỉnh đội Tây Ninh tháp tùng, nên thằng bị thương được chở về ngay nên thoát chết. Cái hố mìn to giữa đường không cho phép đoàn xe tiếp tục, vả lại các bác tài hơi bị rét nên cũng toàn bàn lui. Cuối cùng, trung đội TNXP Dũng Chí, làm nhiệm vụ tải đạn đã (cái nầy mới thiệt là XUNG PHONG nè) gồng mình vác bộ toàn bộ số đạn dược lên đồn với đoạn đường gần 500 mét đến gần nửa đêm mới xong.
Tới chừng lên tới đồn thì tui mới hỡi ơi !!! Vì ngoài một trung đội TNXP (15 em) với 2 khẩu CKC, ở đồn chỉ có 5 mạng là bộ đội. Ngoài tui là trinh sát (mới nổ súng được trận đầu) thì số còn lại gồm: 1 hớt tóc (anh nầy dân Nam Hà, nhập ngũ 12/1974 đợt vét vì sức khỏe yếu), 1 anh nuôi (thằng Lưu sinh viên tui kể hồi nảy) 1 Tiếp phẩm (đi chợ, mua nhận hàng thực phẩm cho anh nuôi) và một ông quân khí già hổn danh là Chín Đệ (chịu trách nhiệm lo cấp súng đạn). Ông nầy nguyên là dân biệt động thành, người Quảng Nam tác giả của vụ đặc công đánh nhà hàng Mỹ Cảnh năm nào, sau bị bắt làm tù binh ở Phú QUốc, đến năm 1973 mới được trao trả. Lúc ở Phú Quốc bị đục hết răng nên cái miệng móm sọm, nhưng tính tình rất khẳng khái. Mấy thằng lính trẻ cứ hay chọc cái vụ ổng có vợ trẻ như tiên (vì mãi đến khi giải phóng, gần 50 tuổi ổng mới có dịp lập gia đình) thì nẫu chưởi nghe đã lắm...
Các bạn cứ tưởng tượng, một đám quân ô hợp như thế, nằm ôm gần 5 tấn đạn (chủ yếu là đạn pháo 105 mm) trong một cái đồn biên phòng mà mênh mông xung quanh tối thui rừng rậm (phía VN) và đồng không mênh mông (phía Kam.). Trong khi nghe đồn rằng tụi K. hay chơi chiến thuật "hồi mã thương", tức là ban ngày thì bỏ chạy, chờ ban đêm quay lại tái chiếm...thì biết nói gì đây ???
Mà cũng lạ là mấy cha TNXP lại thấy tỉnh bơ, chắc mấy chả tưởng là đại quân ta còn đóng xung quanh. Còn phần tui thì biết chắc là đơn vị mình đã đi vào Phun Th'Mây cách đó chừng 5 cây số từ hồi chiều vỉ hồi nảy tui đã hỏi mầy tay lái xe về điểm đến của đoàn xe. Điều an ủi duy nhất lúc đó là đồn có một hệ thống giao thông hào và hầm trú khá tốt cho việc phòng thủ và cái trò biểu dương xe pháo ì xèo lúc chập tối không chừng có thể hù mấy thằng K. yếu bóng vía. Thế nên "ba bảy cũng liều"...tui làm ra vẻ ngon cơm, mặt lạnh...quán triệt tư tưởng, giao nhiệm vụ và chia gát cho mấy chàng TNXP và cho 3 chàng ngự lâm pháo thủ tiếp phẩm, anh nuôi và lão tướng Chín Đệ trấn 3 góc với nhóm TNXP. Còn mình và ông bạn đè đầu xởn tóc bộ đội thì trấn một góc và... làm một giấc tới sáng... một đêm thật yên bình, trời cuối năm lành lạnh đầy sao...

Ngày mai 23/12/1977 là ngày đầu tiên tiến vào đất K. với nhiều điều lạ lùng...

Ngày 23/12/1977

6 giờ sáng, một đoàn xe vừa tải kéo pháo 105 ly và mấy chiếc M113 hộ tống ùn ùn kéo đến đồn. Thì ra theo kế hoạch tác chiến thì cứ điểm nầy sẽ thành căn cứ pháo chuẩn bị cho trận chiếm Thị trấn MIMOT. Nhưng đó là chuyện của ngày hôm sau.
Năm thằng tụi tui tạm biệt nhóm TNXP để "mãnh long quá giang" thiết vận xa M113 tiến vào phum Th'Mây.
Lúc chuẩn bị chiến đấu nghe tin tức và chính trị viên nói về AngKa của K'Mer đỏ tôi thật tình cũng chưa tin lắm, nhưng khi đến cái phum đầu tiên nầy thì mới tận mục sở thị cái "công xã trại lính" nó như thế nào. Phum người K'Mer hình thức cũng giống như các Sóc người dân tộc của mình. Vài chục nóc nhà sàn bằng gổ lợp lá thốt nốt nằm xen lẫn như rất bình yên dưới những tàn cây dừa, cây ăn quả xen lẫn là những vườn rau. Đặc biệt là họ không làm hàng rào để chia ranh đất như người Việt mình. Thế nhưng dưới chế độ AngKa thì sinh hoạt không còn như cũ. Các tài sản như những cây dừa đều được đánh số để quản lý. Ở giữa phum là một khu nhà bếp và nhà ăn tập thể cho cả phum. Cơm, thức ăn được nấu trong những cái chảo quân dụng bằng gang như của bộ đội VN. Không biết thực đơn và khẩu vị như thế nào ?...Bò gà thả rông chạy đầy ngoài đồng…thịt gà kho với hành lá tươi nhổ cả bó…cơm nóng…Trong khi sức thanh niên mấy ngày qua chỉ xài mì tôm, lương khô…thì các bác biết hương vị bữa ăn trưa hôm đó ở Phum Th'Mây như thế nào…
Sau buổi trưa, tụi tui đã tái nhập đơn vị và cùng hành quân với Tiểu Đoàn Bộ (Các anh chỉ huy tiểu đoàn và các đơn vị hổ trợ như quân y, thông tin, trung đội cối 82…) Ngày hôm đó không có chạm tráng gì đáng kể vì nhờ có đơn vị Thiết vận xa M113 hổ trợ và địa hình trống trãi nên tiểu đoàn tụi tui "đánh như kiểu Mỹ" vậy, khoẻ re.
M113 của quân đội Mỹ là loại xe bánh xích nhưng có đệm cao su, động cơ rất mạnh mà thùng xe bằng hợp kim nhôm, xe nhẹ nên chạy rất đã. Nó vượt qua ruộng nước và các bờ đất không có gì khó khăn, còn trên đường lộ thì nó có thể chạy cở 50 km/giờ một cách ngon lành. Chỉ có điều là không chịu nỗi đạn chống tank (M72, B40, B41). Tuy nhiên việc thịt được nó bằng các súng chống tank cầm tay của bộ binh không dễ ăn như ta vẫn tưởng…vì…
"đánh như kiểu Mỹ" mà tui nói ở trên là như thế nầy. Hai chiếc M113 chạy sau một tiểu đội bộ binh đi trước. Chỉ cần có một ổ kháng cự hay một lùm cây nghi ngờ có địch thì đơn vị bộ binh chỉ việc tìm chổ núp và giử không cho một tên xạ thủ súng chống tank nào lại gần, còn hai chiếc M113 thì dùng hỏa lực của 2 khẩu đại liên 12 ly 7 bắn tơi tả mục tiêu ở cự ly từ 300 đến 500 m, ngoài ra bộ đội thiết giáp ta còn sáng kiến lắp thêm một khẩu đại bác 75 mm không giật nữa…nên chuyện có một xạ thủ nào dám chịu trận để chờ đến tầm (<100 data-blogger-escaped-anh="" data-blogger-escaped-br="" data-blogger-escaped-c="" data-blogger-escaped-h="" data-blogger-escaped-i="" data-blogger-escaped-l="" data-blogger-escaped-m.="" data-blogger-escaped-m="" data-blogger-escaped-n="" data-blogger-escaped-ng...m="" data-blogger-escaped-ng="" data-blogger-escaped-ph="" data-blogger-escaped-s="" data-blogger-escaped-t="" data-blogger-escaped-th="">Nhân các bác có nhắc tới phiên hiệu Trung Đoàn Gia Định. Tôi cũng xin kể sơ sơ. Không giống như phần lớn các đơn vị khác của các sư đoàn chủ lực F5, F9, F316, F318…với quân số đa phần là lính NVQS đợt 1976. E-GĐ là đơn vị của lực lượng vũ trang TP.HCM. thành lập trong chiến dịch HCM. mà gốc là cán bộ chiến sĩ đã trưởng thành trong chiến tranh giải phóng. Tiểu đoàn 1 trước đây là tiểu đoàn Quyết Thắng. Một đơn vị có tiếng của vùng Gia Định – Tam Giác Sắt. Đã được phong anh hùng. Tiểu đoàn 3 vốn là một đơn vị công binh của miền đông (khác với công binh của VNCH hay US-Army là làm đường làm cầu, còn đơn vị công binh nầy có tay nghề chính là phá cầu phá đường hoặc cùng lắm là đóng chốt bảo vệ cầu đường là chính). Còn tiểu đoàn 2 của tui thì lại hình thành từ 3 đại đội. Đại đội 1 lấy của Tiểu đoàn Quyết thắng trước kia. Đại đội 2 lấy của tiểu đoàn công binh và đại đội ba lại là đại đội "Cóc nước", một đơn vị thiện chiến vùng sông nước của huyện đội Củ Chi điều về. Tất nhiên ngoài số cán bộ chiến sĩ cũ đã qua thử lửa, Trung Đoàn Gia Định cũng có bổ sung một số lính NVQS từ A (ngoài Bắc) nhập ngủ 12/1974 và NVQS dân TP.HCM. đợt đầu 1976, nhưng lính mới ít hơn lính cũ. Với thành phần như thế nên ngay từ đầu mấy thằng lính mới như tụi tui "tâm phục khẩu phục" mấy ông kẹ ma cũ lắm. Cứ mổi một ngày chiến trường lại được học rất nhiều và phải ráng theo mấy ảnh. Dân lính cũ có một phẩm chất là giữ kỹ luật chiến trường rất nghiêm ngặt. Phòng ngự hay xung phong nhất nhất đều theo đúng kế hoạch hợp đồng tác chiến và lệnh của chỉ huy nên dù công hay thủ thì thường ít khi bị vở trận (để diễn biến trận đánh không đúng theo kế hoạch đã dự kiến). Tuy nhiên cũng vì mang tiến lì đòn nầy mà không ít lần đơn vị cũng phải "lên bờ xuống ruộng", nhưng đó là về sau nầy.

Đến tối hôm đó thì đơn vị tụi tui chiếm được cứ điểm thứ hai - Lăng Cà Bơ - một cách nhẹ nhàng.
Hai tiểu đoàn bạn D1 Quyết Thắng và D3 Công Binh cũng đã chiếm lĩnh các vị trí của họ. Tất cả sắp sẳn (mượn chử ký của bác PhanTan cái) cho một mục tiêu thứ thiệt ngày mai: MIMOT.


"...Mầy còn nhớ đoạn đường MI-MỐT Phum DOL
buổi trưa qua Cà Chay gió lùa
lại thấy bên đường người con gái trong bài thơ "Lá Đỏ"
vượt qua mấy lưng đèo vẫn tưởng chừng đâu đó
màu mắt em dõi theo...gửi gắm gì mà...bâng khuâng..."


Ngày 24/12/1997
Sáu giờ sáng, tiếng đề-ba đạn pháo từng hồi từ Vạc-xa (Đồn Biên Phòng, nơi tụi tui ngủ đêm trước) vọng về rồi rơi nổ vang vội phía trước đội hình của Tiều đoàn là khu vực sân bay Mimốt. Cấp chỉ huy sau khi nhận tin của trinh sát quân khu báo về đã ra lịnh cho toàn đơn vị vận động xuyên qua rừng cao su vì phía bọn K có dầu hiệu tháo chạy.
Sự chạm tráng quân sự giữa VN và Camphuchia của K'Mer đỏ thực ra đã nhen nhóm ngay từ năm 1975 nhưng ở mức độ còn nhỏ lẻ, tế nhị, không thể công khai (vì nhiều lý do), đó cũng là phần nào nguyên nhân mà trong thời gian đầu ta bị nhiều thiệt hại ở các đơn vị công an biên phòng và Q 16 của AirBus...
Đến ngày 22/12/1977 thì mới là ngày toàn quân nổ súng.
So sánh hai bên thì tôi thấy có một nội dung như thế nầy:
Về thể lực, từng người, từng nhóm đơn vị nhỏ...thì lính K có lợi thế hơn BĐ VN vì họ khỏe hơn, rành địa hình và được khuyến khích về ý thức cũng như bản năng giết người hơn. Bên lính K có nhiều đứa chỉ chừng 13 - 15 tuổi. Tuổi nầy mà lại được trang bị súng AK China mới tinh ốp gổ vàng chóe thì hăng phải biết..!.
Tuy nhiên khi mở những trận đánh lớn từ cấp đại đội, tiểu đoàn trở lên...đòi hỏi phải có kế họach, hẹn giờ, hiệp đồng tác chiến, nghi binh, mủi chính, mủi phụ...thì bên VN có ưu thế hơn hẳn.
Như đã kể ở phần trên, sau trận mở màn trên toàn tuyến biên giới thì còn ở thế dằng co, nhưng khi bị chọc thủng thì lớp trong bên K lại lỏng, không có phòng thủ chiều sâu. Chắc bên K nghe mấy cố vấn tuyên truyền là VN không dám đánh sang hay sao ấy. Nên chỉ trong 1 ngày, mủi của trung đoàn tụi tui đã tiến sâu gần 10 km và trận Mimot được dự kiến là sẽ ác liệt vì đây là một thị trấn đầu cầu của quốc lộ 7 Đông Duơng mở đường tiến vào vùng đông bắc của Campuchia. Ngoài ra Mimot còn có sân bay, nhà máy cao su, đồn điền...và trụ sở hành chánh v..v..Thế nhưng sau khi nếm pháo binh, nghe tiếng xe thiết giáp M113 và cuối cùng, lúc 2 chiết tank T 54 xuất hiện ở đầu hàng rào sân bay thì bên K bỏ chạy nhanh đến đổi bộ binh mình hầu như chẳng có cơ hội đánh đấm gì cả. Giống như một buổi tập trận cấp sư đoàn mà từ hồi nào giờ bộ đội ta chỉ tưởng tượng trên lý thuyết và hôm nay là thực hành vậy.
Thế nhưng ở chính cái thị trấn Mimot nầy trung đội trinh sát tụi tui có một kỷ niệm mà sau nầy nhắc lại thằng nào cũng không biết phải kết luận như thế nào ???!?
Số là như thế nầy:
Sau khi chiếm được cái thị trấn trù phú nầy một cách nhanh chóng thì đơn vị được lệnh đóng chiếm và chyển sang phòng thủ vài ngày trước khi phát triển chiến dịch. Khi đó phần vì do bộ binh tiến nhanh quá, hậu cần theo không kịp, phần vì thị trấn có rất nhiều lương thực của dân K như cả kho đậu nành, đậu xanh, một lò đường thốt nốt, rồi rau cải và nhiều nhất là cam quít còn gà qué và heo bò thì chạy đầy đất ....nên đơn vị được tự túc, tự kiếm cái ăn.
Mọi khi, do "tay nghề" nên trung đội trinh sát ngoại trừ những lúc đi công tác thì lúc hành quân hay đóng quân thường được ưu ái ở chung với mấy anh chỉ huy tiểu đòan. Nhưng lần nầy thì được lịnh đóng quân thủ một mặt của thị trấn ở một trại cưa cách xa tiểu đoàn bộ chừng 300 mét nơi rìa thị trấn...không sao, xa mặt trời dễ quậy. Trò đầu tiên là uống nước dừa. Như tui đã kể do Angka quản lý chặc, cây dừa nào cũng có số, dân K không dám đụng tới nên cây nào cũng đầy trái....vừa uống...vừa tắm...nhưng đến trò uống mật ong thì mới trúng đòn...số là lục trong bếp nhà máy cưa, tụi tui lấy được một cale nhựa loại 20 lít chứa gần đầy mật ong rừng thứ thiệt....thế là chia nhau mổi thằng một bình toong, số còn lại chế vào ca, pha nước dừa ực tại chổ...cành hông...thế nhưng, đến gần cạn thì nghe có tiếng lục cục trong đáy cale, tui đổ ra... thì trời đất ơi ! các bác biết gì không ??? nguyên một con chuột cống chết từ đời nào, chắc vì nó cũng hảo ngọt như tụi tui...muốn ói mà có thằng nào ọi ra được đâu...chỉ có điều an ủi là...cái xác chuột trong mật có không bị hôi hư gì cả, xác ướp Ai Cập mà...chắc hỏng sau...
Thành ra tới bây giờ cũng như lão ThichMaz, thà đói chứ nhất định ly khai khoai mì. Còn tui thì mật ong từ đó là thứ chỉ để dành băng vết thương (chống nhiểm trùng tuyết vời) chứ còn uống thì..hảy đợi đấy...còn lâu !
Ngoài ra tui còn một "hội chứng thịt nướng" nữa hồi sau sẽ kể. 

Đêm 24/12/1977 Noel ngủ ở Mimot.
Sáng 25 mới vừa mờ mờ đất bổng nghe đủ lọai đạn nổ liên hồi. Bị tập kích rồi, tui hét báo động, và chộp cây AK và bao-xe (túi đựng) đạn chạy nhanh ra hầm chiến đấu, vừa được hơn chục mét, quay lại thì thấy ngay chổ tui mắc võng ngủ nổ tung lên bởi một trái M79. Thóat chết lần 3! Nếu chỉ mê ngủ hay chậm chừng vài giây là mệt rồi. Vừa ra đến hầm và lên đạn khẩu AK xong thì thấy từ phía ngòai tuyến một bóng người, đầu cắt 3 phân, áo xanh bộ đội, quần tà lỏn đen, tay cũng cầm khẩu AK, tay cầm cuốc, đúng kiển cán bộ AngKa chuyên hành quyết người ta bằng cách đập đầu… đang nhảy loi choi xung phong vào…nhưng chả không bắn mà …..la:
- Ê đừng bắn, đừng bắn, tao !...tao!...
Tôi hạ súng nhìn kỹ thì ra đó là thằng C. dân Hóc Môn. Thằng nầy có một thói quen rất "vệ sinh thường thức" của "Quốc Văn Giáo Khoa Thư" đó là: Đều đặn đi toilete mổi sáng sớm. Ở chổ đóng quân không có toilete nên để giải quyết tập quán anh chàng đành xách cuốc đi làm "quận công" (sướng: nhất quận công, nhì *** đồng). Khi nghe súng nổ, không biết nó có kịp gì…chưa thì phải chạy vào và găp tui. Hú hồn cho nó vì sau đó thì mấy đứa khác trong trung đội mới kịp tản ra hệ thống hầm để chuẩn bị phòng thủ mặt của mình. Thằng C. mà chạy về chậm một chút, trong khi cả trung đội đang thần hồn nát thần tính vì như bị trời đánh lúc đang ngủ mê thì không biết xác xuất an tòan của nó còn được bao nhiêu ??? Sinh mạng con người ta trong chiến tranh nó mong manh đến éo le như vậy đó !
Thế nhưng chuyện kế tiếp nầy mới là K'nock out thiệt nè:
Nghe hướng tiếng súng nổ thì như là phía đại đội 2, mặt Phi trường, đang bị tấn công.
Tiếng súng lần nầy có nhịp nổ rất khác thường ! Nó nhanh, mãnh liệt và dồn dập theo kiểu là 2 bên đều đông và đồng sức về hỏa lực cũng như lòng quyết tâm….thế nhưng nó chỉ kéo dài khỏang chừng 5 phút thì bổng ngưng ngang, im lìm, dứt hẳn !?!?!
Sau nầy thì mới được biết thì ra đây là một trận "quân ta chiến đấu quân mình".
Số là chiều hôm qua chúng tôi đã chiếm được Mimot, nhưng không hiểu thông tin liên lạc, báo cáo thế nào mà Trung Đòan 2xx của F5 đến sáng nay mới tiếp cận Mimot và nổ súng tấn công.

Diễn biến như tui đã kể ở trên,,..chỉ tới chừng bên kia, tay Đại đội trưởng mủi chính hô Xung Phong bằng tiếng Việt và nghe Đại đội 2 bên tụi tui chưởi thề lại bằng tiếng Đan Mạch:
- ĐM, ĐM…tụi nó lên, ĐM,…tập trung hỏa lực nhe tụi bây, ĐM thằng nào tróc hầm (bỏ hầm chạy) là chết mẹ đó…(các bạn thông cảm, trong chiến đấu, phe nào cũng vậy đều hò hét, chưởi bậy như điên…)
thì…hai ông chỉ huy mới cho lính ngưng nổ súng và hô mật khẩu bắt liên lạc, kịp thời dừng lại một cuộc chiến "huynh đệ tương tàn" đúng nghĩa do…nhầm lẫn.!!!
Qua trận đó tôi mới cảm thấy phần nào cái nguyên nhân là tại sao các cuộc nội chiến của người Việt thường kéo dài và có số thương vong ghê gớm ! Chỉ hơn 5 phút nổ súng mà mổi bên đã bị thương bảy tám em, may mà bên kia chưa xung phong ! Trong khi cả chiến dịch của cuối năm 1977 nầy, đánh suốt từ Kà Tum - Mimot - Cà Chay - Snoul - Catdai..(gần 100 km chiều dài tuyến của chiến dịch) tiểu đòan tui chỉ chết có 2 người và bị thương gần 20 người (kể cả 7 em ở trận nầy).
Đau quá.

Như các bác nào đã từng off-line với tui thì chũng biết, về "lực lưỡng và tính khí" thì tui cũng như lão ThiachMaz tức là loại thư sinh Saigon. Cho nên lúc mới nhập ngũ tôi đượcc bố trí làm "quản lý tiểu đoàn bộ". Đây là quan có nhiệm vụ cùng với Anh Nuôi (nấu cơm) và Tiếp Phẩm (đi chợ, nhận nhu yếu phẩm) lo cho cái ăn xài hàng ngày của các đơn đơn vị thuộc tiểu đoàn bộ. Nhiệm vụ chính của tui là ngoài việc cũng mang vác, chẻ củi nấu cơm phụ hai ông kia còn làm thêm chuyện tính tóan, quyết tóan, công khai tài chính hàng ngày, hàng tháng và lãnh/phát sinh hoạt phí cho mọi người. Được đúng một năm thì quá ngán vì....làm dâu hai họ: Tiền thì ít, gạo thì thiếu...đã vậy mà trong khi mấy ông "Giá sống" thì đòi mắm, rau sống, khổ qua...chiều mấy ông nầy thì bị mấy ông "Rau muống" buồn vì theo thực đơn Nam Bộ thì mấy ổng không quen (nhất là khổ qua, mướp đắng thì chịu thua luôn)...tóm lại là lúc nào hội họp thì cái tổ 3 người "cơm áo gạo tiền" của tui cũng bị phê bình giữa hai làm đạn. Không lẽ lại đi nấu món Tàu !?..Thế là tui quyết định từ chức. Các anh trên Tiểu đoàn cũng động viên, rồi thậm chí cưỡng ép (vì tui tính toán chuyện tiền nong cũng được, không có vấn đề gì cả một thời gian dài nên mấy ảnh yên tâm tin tưởng),,,nhưng tui cương quyết "từ chức"...thế là bị xếp vào loại "bất phục tùng" và được bố trí qua tổ "tục tạc" cũng gồm có 3 thằng cứng đầu là tôi và hai ông bạn dân Nam Hà. Trong hai ông nầy có một ông tên là Huynh tướng tá rất ngon lành, to cao, tóc quăn, đánh bóng chuyền rất giỏi với những cú đập thần sầu...là lính của Đại Đội 2, không biết buồn tình bất mản gì mà lại chơi lấy dép râu cột vào dây kéo cờ và kéo trên cột cờ  (lúc không có lá cờ trên cột - lúc lúc ấy là ngày chủ nhật, để tiết kiệm, cờ chỉ treo vào ngày thứ hai chào cờ mà thôi) còn ông (tên Diệp) kia thì ủng hộ bạn mình bằng cách đứng nghiêm chào...
Tuy là tổ "tục tạc" nhưng cũng phải có tổ chức trong thời gian tự học về nhận thức., chính trị,phê , tự phê...nên tui, thằng có tôi nhẹ nhất được giao làm" phụ trách tổ". Lúc đó bác Huynh bèn ra giọng "Đại Huynh" mà phán với tui rằng:
- Mịa, ở hậu phương thì cứ làm oai đi ! Thằng nào ngon thì mai mốt ra mặt trần thì mới biết nhau nhé !...Lúc đó là 31/10/1977.
Thế rồi "cầu được ước thấy". Khi đơn vị chuẩn bị lên biên giới thì 3 thằng tui được "ân xá" và bố trí sang trung đội trinh sát của tiểu đoàn để có dịp chứng tỏ là cái đầu mình cứng tới cở nào....
Và trong lần nghe tiến súng đầu tiên do tiểu đội trinh sát 1 (tụi tui ở tiểu đội 2) chạm địch cách chừng 200 mét và sau đó khiêng về một em bị dính mìn cóc Trung Quốc bay mất một cái chân thì hai vị Hảo Hán H. và D.....bịnh. H. thì nhức đầu kịch liệt và D. thì đau bụng tiêu chảy...bệnh nặng tới mức là phải chuyển họ về bộ phận công binh trung đoàn bộ là những người có sức khỏe đủ để làm sao sau khi dừng quân 30 phút thì phải đào xong hệ thống hầm phục vụ chiến đấu cho BCH Trung Đòan.

ĐỆ THẤT LỘ GIỮA ĐÀNG THỌ ĐỊCH
ĐÁNH SƠ-NUL GẶP KẾ KHÔNG THÀNH

Ở Mimot được 2 ngày thì chiến dịch phát triển về hướng bắc. Nếu ta nhìn trên bản đồ biên giới VN-K thì sẽ thấy từ thị trấn Mimot se có một con đường nối đến thành phố SNOUL. Khỏang cách nầy là 40 km. Con đường nầy là Quốc lộ 7, một con đường với cái tên nằm trong hệ thống đường bộ Đông Dương thuộc Pháp (INDOCHIN).
Bộ phận tiền phương gồm Đại đội trinh sát Trung Đòan, mổi tiểu đoàn cử một tổ trinh sát tiểu đoàn (3 người) và một Hạ sĩ quan trợ lý tham mưu của tiểu đòan, đại đội công binh Trung đòan. Trên đường có 2 cầu bắc qua 2 con sông nhỏ. Đại đội công binh sẽ co nhiệm vụ chốt giữ hai cầu nầy, bảo đảm cho đường tiến của đại quân sau nầy. ĐĐ Trinh sát Trung đoàn làm nhiệm vụ bám địch nắm tình hình toàn cục để phục vụ cho kế họach tác chiến của toàn trung đòan. Còn các tổ trinh sát và TL tham mưu của các tiểu đoàn có nhiệm vụ cùng với trinh sát trung đoàn "tận mục sở thị" để dẫn lực lượng tiểu đoàn mình sau nầy vào vị trí hướng đánh của đơn vị theo kế họach chung. Tôi, lúc nầy, sau trận Vạc-xa và Mimot đã phần nào được mấy anh tiểu đoàn "làm lơ" cho cái tội "từ chức" và được đề bạt lên chức binh nhất-tiểu đội phó kiêm tổ trưởng tổ "tiên phuông" và hai bạn khác (thế chổ ông Huynh và Tiệp) tên là Phú và Cắt.
Thằng Phú là dân Xóm Gà BT. cao 1 mét 78 đẹp trai như Tài tử Nguyễn Chánh Tín, hát hay như Duy Quang và đặc biệt là đánh cờ tướng thần sầu. Mấy lúc ở hậu cứ, nhờ tài cờ của nó mà tổ tụi tui có chuối, lương khô cải thiện dài dài nhờ thắng độ cờ ( hay cờ, nhưng khi thi đấu nó chỉ canh thắng đối thủ 1 nước, nên mọi người cứ tưởng nó ăn may và...bị nó luộc hòai,..Chỉ có thằng Cắt và tui biết nó là cao thủ). Tuy nhiên thằng Phú cũng có cái dở...mà để khi "lâm trận" tui sẽ từ từ kể nghe mới vui.
Thằng Cắt là nông dân thứ thiệt ở Xuân Thới Thượng - Hóc Môn. Vì ở quê và mồ côi sớm nên nó học ít - lúc mới ở chung, tui vẫn dạy nó thêm toán lớp 5 và cách viết bản tự kiểm-báo cáo thành tích hàng năm. Thế nhưng nó lại rất kỹ lưỡng và có một trí nhớ tuyệt vời, đặc biệt là những kỹ năng của người nông dân thời mở đất - đó là những kỹ năng khai thác từ thiên nhiên mọi thứ để phục vụ cho sinh hoạt của con người. Nhờ có nó mà "đời sống" của tổ "tiên phuông" của tụi tui lúc nào cũng "phẻ re"...từ con dao nhíp nhỏ xíu nhưng bén ngót để có thể làm thịt một con gà trong 5 phút, đến bọc muối tiêu bột ngọt "bảo bối" làm cho các bửa ăn dã chiến trở nên dễ nuốt, cho đến các loại rau-lá-củ nào ăn được, chế biến ra sau...đến chuyện đào hầm thì nó cũng lựa chổ có dây Hà Thủ Ô già để sau khi đào xong cái hầm thì cũng thu họach luôn được một củ Hà Thủ Ô lão làng (củ Hà Thủ Ô ở rất sâu dưới đất cứng) rất quí khi nấu nước uống, rồi đi rừng thì chặt cây tre, lồ ô hoặc dây rừng nào thì có nước uống được..v.v...
Thật tình tui đi qua cuộc chiến một cách dễ thở hơn cũng một phần lớn nhờ có 2 chiến hữu độc đáo nầy....
Trở lại cuộc hành quân. Đội quân tiên phong nầy hành quân bộ với trang bị gọn nhẹ, mỗi người chỉ mang theo vũ khí cá nhân và một võng dù, một tấm áo mưa, 2 cái nồi, ruột tượng gạo và bộ quần áo dính trên người, số quân trang còn lại sẽ do hậu cần của đơn vị mang lên sau cho mình…Nnếu bạn nào đã từng vác ba lô đi bộ từ 10 km trở lên thì chắc sẽ đồng tình với tui : Đây chính là cái mà làm cho tui khóai "binh chủng" trinh sát nhất…
Ngày đầu đúng chỉ là hành quân, chúng tôi đi hàng một theo sau một tổ trinh sát đi trước đội hình chính chừng 500 mét. Phần lớn đọan đường là đồn điền cao su, rừng cao su bạt ngàn đang mùa thu đông thay màu lá đỏ…buổi trưa qua Cà-Chay, là trung tâm của đồn điền, chúng tôi dừng lại để ăn trưa bằng cơm vắt mang theo từ lúc sáng. Bên đường có mấy chiếc xe tank của Sư 5 và mấy cô TNXP…trong cảnh rừng cây, thình thỏang từng cơn gió cuối năm làm rơi bay từng hàng lá đỏ làm thằng Phú cao hứng hát bài Lá Đỏ (bài ruột của nó):
"….gặp em, trên cao lộng gió…đường Trường Sơn, ào ào lá đỏ…em đứng…đứng ở bên đường, như quê hương, vai áo bạc, quàng súng trường…"
Một bài ca bi-hùng. Đất nước sau bao năm đau khổ, đói nghèo vì cuộc kháng chiến giành độc lập. Vừa xong thì giờ lại phải tiếp tục gánh thêm những cuộc chiến tranh trên đôi vai áo bạc màu…như cũ…vì sao ?

Buổi dừng chân ban trưa qua mau, vẫy tay chào mấy cô TNXP nhỏ nhắn, lòng tui chợt nhớ đến hai câu trong Đọan Trường…của Tố Như:

"….người lên ngựa kẻ chia bào
rừng phong thu đã nhuốm màu quan san…"

Chiều tối thì chúng tôi đến Phum Dol. Phum nằm giữa một khu rừng với chừng 50 mái nhà sàn nằm lẫn khuất dưới những tán cây dừa thật đẹp. Cảnh trí y hệt như khu Sea Horse Resort ở Mủi Né bây giờ vậy. Tuy nhiên cái quan trọng của tụi tui bây giờ là phải lo nấu cơm cái đã….đói muốn run luôn…lội bộ cả ngày hơn 20 cây số rồi còn gì…
Một đêm thật yên bình trên đất lạ. Cái yên bình, lặng im trước một cơn bảo… 

"…Tumokrong, Đakto, Krek , Snoul..
Trưa Khe Sanh gió lùa
Đêm Hạ Lào thức sâu …."


Địa danh Snoul trong bài hát …và câu chuyện của tôi là một.
Năm 1971, sư đoàn 5 BB của QL.VNCH bị dính chưởng của Công Trường 7 (Sư Đòan 7 quân Giải Phóng) ở đây khi hành quân qua Cambodge, sau đó Liên Đòan Biệt Động Quân được đưa sang tiếp viện giải vây cũng không còn manh giáp (tôi tận mắt chứng kiến một anh ở trong xóm tui lúc ấy là thượng sĩ BĐQ-VNCH may mà chạy về được, đến nhà thì chỉ còn bộ quận áo tả tơi màu đất đỏ trên người…)…tất nhiên "đàng mình" (Quân Giải Phóng) cũng có thiệt hại, nhưng không biết ra sao ? Mà có điều chắc chắn rằng CT 7 cũng giữ được Snoul cũng như mặt trận đường 9 Nam Lào thuở ấy.

SNOUL, với vị trí như một ngả ba chiến thuật vì theo đường Trường Sơn từ phía bắc vào thì sau khi qua địa phận Lào thì vào Cambodge…đến Snoul thì tẻ ra làm hai hướng:
1- Rẻ trái theo quốc lộ 13 thì sẽ vào Việt Nam qua cửa khẩu Hoa Lư của Lộc Ninh (một thời là thủ đô của Chính Phủ CM LT MNVN).
2- Đi thẳng theo QL 7 tiếp về tỉnh Tây Ninh, Long An và miền Tây Nam Bộ.
Địa hình ở đây gồm đồi, thung lũng, rừng cao su và rừng nhiệt đới…tương tự như ở Bình Phước của VN. Và với vị trí như đã nói ở trên nên chốn hiểm địa nầy đã là nơi thư hùng của đơn vị thiện chiến qua các cuộc chiến tranh…
Lần nầy là giữa quân Sư Đòan 5 QĐNDVN có tăng cường các đơn vị phối thuộc (EGĐ, Q16, D Gò Dầu… ) và quân K'Mer Đỏ.

Trở lại câu chuyện theo mạch lần trước:
Đòan chúng tôi rời Phum Dole lúc sáng sớm, sau khi ăn sáng sơ sơ bằng cơm nguội còn lại chiều hôm qua, cũng với đội hình hàng dọc.
Đến chừng 11 giờ và còn cách một cái phum nhỏ giữa rừng chừng 1 cây số thì nhóm đi đầu thông báo về phát hiện có một xe tải chở quân K chạy ngược về phía chúng tôi. Anh Ái (Đại đội trưởng trinh sát trung đòan) ra lệnh cho đội hình tản ra hai bên đường và điều tập trung một khẩu đội 3 cây B41 (súng chống tank) lên đầu đội hình để hốt chiếc xe chở quân. Chúng tôi nín thở chờ một quả ngon ăn…thế nhưng, khi vừa chạy qua đầu làng, còn cách chúng tôi khỏang 500 mét thì chiếc xe dừng lại và bọn lính K tản ra hai bên bờ đê, chắc để chuẩn bị "nghênh đón" chúng tôi vì thế nào bọn chúng cũng biết hướng tiến quân của đơn vị. Thế là từ thế phục kích, chúng tôi nếu chậm một chút (do ngủ nướng chẳng hạn), sẽ trở thành bị phục kích…Sau khi điện về báo tình hình (vì nhiệm vụ chính của trinh sát không phải là chiến đầu mở đường) và được lệnh của Trung Đòan là đánh luôn (nguyên văn khẩu lệnh của Trung đòan trưởng là: "Chạm địch à …thì đánh mở đường mà tiến").

Đại đội công binh được phân công tiến theo cánh bên phải đường, phía có địa hình rừng chồi, đánh theo kiểu đội hình đại đội, đánh chậm, núp kỹ để hạn chế thương vong với ý đồ là thu hút sự chú ý của địch. Còn quân trinh sát thì vận động bên trái đường với địa hình ruộng gò (ruộng chỉ làm được một mùa mưa nhờ nước trời, tháng chạp dứt mưa, sau khi thu họach chỉ còn gốc rạ và chân ruộng khô queo…) đánh theo kiểu xuyên hông, nhanh, bất ngờ…

Tiếng súng bắt đầu rộ lên khi bọn K bắt đầu phát hiện đội hình tiến công của đại đội công binh, hỏa lực chính của lính K là một khẩu RPD (trung liên, có hai càng chống ở mủi súng, bắn đạn 7,62 mm, mổi nồi 100 viên) tập trung về phía bên kia đường, có lẽ lính K "trúng kế" của ông Chín Ái tôi thầm nghĩ thế, vì phía bên nây nơi đám lính trinh sát tụi tui không thấy có đường đạn nào căng qua. Được chừng 2 phút thì Anh Chín Ái chỉ tay và ra lệnh :
- Trinh sát D2 (là tụi 3 thằng tui) tập trung hỏa lực về hướng cánh rừng bên kia.
Ba thằng tui thực tình nảy giờ nằm ém sát mặt ruộng có thấy gì đâu nhưng cũng nhổm dậy rà bắn theo lệnh của xếp.
- Hết băng, thay đạn mới, chuẩn bị xung phong nhe !
Cái ông nội Chín Ái nầy, bình thường thì ăn nói rất nhỏ nhẹ, bây giờ, trong chiến đấu thì khẩu lệnh của ổng cũng chỉ hơi mạnh, dứt khóat để mọi người nghe thôi chứ không phải hò hét lên gân gì…nhưng thật sự nó đã truyền cho tôi một cảm giác mà không bao giờ tôi quên được…xương sống thì lạnh mà tim và đầu thì như nóng ran lên…sau tiếng hô xung phong chuẩn bị bật lên đó thì thắng-bại, sinh-tử của những con người, của một trận chiến sẽ được quyết định…và…ở vị trí chỉ huy, đang đứng đầu hàng quân, khi hô xung phong thì chính anh ấy cũng phải lao lên…một quyết định cho sự sinh tử của chính bản thân mình…trong khi tui biết cũng lúc ấy, ở cư xá Ụ Tàu, có vợ anh ấy và đứa con gái nhỏ 9 tháng tuổi (anh mới lập gia đình sau ngày 30/4/1975) đang mong chờ ngày anh về !
Tất nhiên, những suy nghĩ nầy tôi chỉ có khi đã qua trận đánh, chứ còn lúc ấy thì chỉ biết căng người chờ lệnh anh Chín Ái.
Cuối cùng thí tiếng hô XUNG PHONG cũng bật ra, ( giống như bây giờ lúc cụng ly cao hứng dân bợm ta hô một….hai…ba….rồi DÔÔÔÔÔÔ….) cả đội hình cùng hò theo và lao lên. Thằng Phú chạy giữa, thắng Cắt bên trái, còn tui bên phải (gần đường nhất), được chừng 50 mét thì đến một bờ ruộng, bổng nghe anh Chín Ái hét: tổ D2 nằm xuống ! Tui vừa nằm xuống thì thấy có một cục tròn tròn đen thui bay ngay đầu thằng Phú rồi một cụm khói đen và cát đất tung lên, rồi một tiếng nổ ầm trời, tai tui như điếc đặc, đất cát rơi phủ đầy người…thôi rồi, tui thầm nghĩ, chắc thằng Phú thành xíu mại tương ớt rồi, ăn nguyên một trái B40 rồi còn gì ! Tới chừng khói bụi vừa tan thì thấy thằng Phú ngóc dậy, lắc lắc cái đầu còn tay thì dụi mắt…tui hỏi :
- Mầy có sao hông Phú ?
Nó lắc đầu và nói:
- Ê Phương, đánh ác quá, tao bỏ cái nồi ở đây cho đỡ vướng nhe ?
Trời đất, thì ra may cho nó là khi nó vừa núp xuống nên nây thì trái B40 của lính K vừa đến và găm-nổ bên kia bờ ruộng…tức cười là ở chổ đã nổ súng, vận động đã đời từ nãy giờ mà anh chàng vẫn "quyết tâm" đeo cái nồi cơm trên thắt lưng chứ không dám bỏ ra…tui quay qua bên trái thì thằng Cắt cũng vẫn còn "trung thành cưu mang" cái ruột tượng gạo bên mình…tức cười đến quên cả sợ, nhưng tui cũng làm bộ ra vẻ chỉ huy:
- Thì ai bắt tụi bây mang theo đâu !

Ngay lúc đó từ phía sau tụi tui một tay ( sau nầy tui mới biết là lính quân báo quân khu ) ăn mặc thật lạ vì nghiêm chỉnh quá! Áo vẫn bỏ trong quần, áo xổ dài tay cài nút, đầu đội mũ cối,…chạy thật nhanh, động tác thật gọn, vượt qua chổ tụi tui đang nằm chừng 50 mét và leo lên một gò mối khá cao, gương khẩu AK nhắm về phía bên kia đường và nổ điểm xạ tất cả 3 phát thật đỉnh đạc…sau đó tiếng súng bên phía lính K bổng thưa hẳn, cả đội hình cánh trinh sát đồng loạt băng qua lộ, vừa chạy vừa bắn chéo với đường đạn của đại đội công binh bên cánh phải lúc nầy cũng đang tiến lên. Tiếng súng của bên mình rộ lên cho đến khi cả đội hình vượt qua con đê và chiếm được trận địa thì không còn thấy một tên lính K nào ngoài 3 cái xác còn bỏ lại tại chổ nằm dọc bờ đê. Tiến lên một đoạn, chổ mà anh chàng quân báo quân khu điểm xạ lúc nảy, tôi thấy một xác của một tên có vẻ là chỉ huy vì nó đội mủ vải loại giống như của Hồng Vệ Binh TQ thời CM văn hóa và quấn cổ bằng một khăn sa-tanh màu xanh thẩm rất điệu…trên xác tôi thấy có 3 vết đạn, một ở trán và 2 ở ngực. Đây chính là tên đã bỏ lính và chạy trước, thế nhưng xui xẻo cho nó là đã gặp tay quân báo thiện xạ bên mình. 3 phát đều trúng ở vị trí chí mạng cho một mục tiêu di động ở khoảng cách 50 mét…quả thật là chỉ có trong phim hành động của Holywood…Sau trận đánh thì tay quân báo thiện xạ nầy lặng lẽ bỏ đi trước cùng nhóm của anh ta nên tụi tui cũng chẳng có cơ hội tỏ lòng khâm phục với một đồng đội cừ khôi, thế nhưng khí phách của anh chàng nầy thì tôi vẫn nhớ mãi đến bây giờ…
Trận "giữa đàng thọ địch" nầy là một chiến thắng vì ngoài thằng Phú bị ù tai thì bên mình chẳng ai làm sao, bên K bỏ lại 4 xác và một khẩu RPD, 2 AK và 1 K54.

"...đêm mình vào Snoul lành lạnh ánh trăng rừng
thành phố ngủ giữa ngàn hoa tranh lau trắng
trắng như màu khăn tang..."


Sau trận "tao ngộ chiến" (thuật ngữ quân sự để chỉ một trận đấnh mà hai bên chạm mặt trên đường hành quân, ngoài kế hoạch, choảng luôn) thì đội tiên phong được lệnh của trung đoàn phía sau là tạm dừng tại chổ, chờ đại quân lên để cùng tiến đánh vào Snoul trong ngày hôm đó luôn vì ý đồ chiến dịch đã bị lộ.
Chúng tôi chỉ kịp thu lượm các thứ vương rải trong lúc đánh nhau, ổn định đội hình đề phòng địch phản kích chứ không kịp nấu nướng gì...dù trời đã xế chiều. Chừng nửa tiếng sau thì đại quân cũng đến và toàn đội hình trung đoàn khẩn trương thẳng tiến về Snoul...
Như phần mở đầu ở bài trước tui đã viết "đánh Snoul gặp kế không thành " ...có lẽ đây là kế độc của các cố vấn thiên triều (lúc đó có rất nhiều trong bộ máy của K'mer Đỏ). Ở vùng ven ranh hướng Lộc Ninh sang thì có một số cuộc đụng độ lẻ tẻ của quân cánh F5, D Gò Dầu, E55...thế nhưng khi hai mủi chính quân ta từ Lộc Ninh và từ Mimot tiến vào Snoul lúc 6 giờ chiều thì chẳng có ma nào trong cái thành phố hoang tàn đổ nát và ảm đạm rêu phong nầy. Thế nhưng chừng một tiếng đồng hồ sau, khi chúng tôi vừa ổn định chổ đóng quân trong một khu nhà bỏ hoang, vừa quét tước cho sạch bụi xong, chuẩn bị nghỉ ngơi, cơm nước sau một ngày gian lao nguy hiểm thì...Tin từ tình báo quân khu cho biết là bên K sau khi bỏ cho quân ta vào chiếm thành phố thì đã bố trí một số trận địa pháo với cơ số đạn khoảng 8000 quả chuẩn bị san bằng Snoul với toàn bộ gần một sư đoàn quân ta trong đó. Nếu nhớ lại "mùa hè đỏ lửa 1972" , thị xã An Lộc của tỉnh Bình Long (có diện tích tương đối lớn hơn Snoul), theo tin báo chí SG lúc ấy, thì vào ngày cao điểm, An Lộc đã bị pháo kích 6000 quả đại pháo 130 mm của quân Giải Phóng. Sau đó thì An Lộc chỉ còn là một đống gạch vụn....thì các bạn biết thần kinh của quân ta lúc đó từ cấp chỉ huy mặt trận đến các chiến sĩ nó như thế nào
Thế là dù mệt mõi rả rời, dù cả ngày trong bụng chẳng có hột cơm nào (chỉ uống nước và chút lương khô) cả đội hình cũng phải rùng rùng cuốn gói, ba chân bốn cẳng, xe tăng chạy trước mở đường để phòng phục kích, bộ binh theo sau, thậm chí gặp đường trống còn chạy nhanh hơn cả xe tank, mục đích là phải ra khỏi trung tâm thành phố ít nhất 3 km trong vòng 15 phút.
Đêm đó chúng tôi phải ngủ trong rừng cao su. Pháo không thấy bắn (có lẽ trinh sát/quân báo của K biết bên mình đã chuyển quân nên thôi không bắn như độc kế nữa) nhưng lại gặp một địch thủ khác với đòn tập kích không kém phần tai hại....đó là lủ muổi rừng. Đây là loại muổi có màu vàng, nhiều vô kể và không biết sợ là gì. Cứ nhằm những phần da thịt của ta lộ ra ngoài là xông vào...Để giử bí mật đội hình, mọi người không dám đập mà chỉ cần đưa tay vuốt thì cũng giết được hàng đàn muổi,,,ngứa kinh khủng...sau nầy hầu như toàn bộ đơn vị tôi đều bị sốt rét, chỉ riêng tôi không hiểu sao lại không bị sốt rét mà lại bị....ghẻ ngứa...các nốt ngứa do muổi cắn đó không viêm nhiểm nặng, không lan rộng thế nhưng nó cứ âm ỉ tồn tại và ngứa...ngứa...ngứa....ngứa.... suốt cả năm trời, ban ngày còn đỡ, tối càng ngứa dữ tợn, không tài nào ngủ được, không thuốc nào trị được...Cho đến năm 1978 khi về dự khoá huấn luyện các bài học trinh sát đặc công ở khu vực Linh Xuân - Thủ Đức. Đơn vị đóng quân ở đình Linh Xuân (phía sau chợ Linh Xuân) Tình cờ khi tắm ở một cái giếng mội (giếng có mạch nước tràn ở trên mặt đất, người ta xây bao cho sạch rồi mọi người xung quanh cứ ra đó gánh nước về xài) gần đình thì tối hôm đó tôi bổng thấy sao cái cảm giác ngứa giảm hẳn, hôm sau tình hình càng khá hơn...tôi bèn đem cả quần áo chăn màn ra giặt luôn và một tuần sau thì bệnh khỏi hẳn. Ơn trời.
Trở lại với Snoul, sau cú đó, BCH chiến dịch đã quyết định bố trí đội hình ở ngoại vi chứ không đóng trong thành phố nữa. Với hai bên, Snoul bấy giờ là một đấu trường sinh tử địa, một miếng mồi nhử cho cuộc thư hùng (vừa đấu trí vừa đấu sức) của hai bên trong suốt gần 10 ngày sau đó.

Tôn Tử… ngưu giác binh… kỳ kế
Xuyên thâu bất giác… loạn binh tình


 Những ngày căng thẳng nhất của chiến dịch bắt đầu bằng một chầu picnic ngon nhất rong đời tôi và có lẽ cũng là của hầu hết anh em trong trung đội trinh sát của chúng tôi…Như các bạn đã biết, ngày hôm qua chỉ có lương khô, tối đến vào Snoul, chưa kịp có gì bỏ bụng thì đã phải sơ tán tránh pháo và chịu trận suốt đêm với bầy muỗi đói…Đất lạ, chưa thông thuộc, nắm chắc địa hình, quân K chắc chắn vẫn bám đâu đó ngòai kia, cho nên tòan đơn vị được lệnh tuyệt đối đừng có mơ gì đến chuyện "nổi lửa lên em" nhé. Cái thời những năm 7x, bình thường thì ai cũng đã thường trực, cơ hữu cái cảm giác đói rồi ! Huống hồ lại là dân lính tráng đang tuổi ăn tuổi dọng như chúng tôi…nhịn cả 24 giờ, rồi vừa hành quân, vùa đánh đấm lọan xị như thế…

Và…

Sáng hôm sau, đơn vị chúng tôi được rời khu rừng cao su và hành quân đến một cái phum nằm về phía tây Snoul. Sau khi ổn định đội hình thì việc đầu tiên của tụi tui là tìm cái ăn. Thức ăn thì không thiếu, heo gà thậm chí trâu bò chạy đầy làng, dưới một đám ruộng gần bờ suối là cả một đám hoa màu gồm cải xanh, cải trắng, hành lá, rau thơm đủ lọai…Thế nhưng cái quan trọng nhất là gạo thì…cả trung đội gom lại thì chẳng thằng nào còn giữ được cài ruột tượng gạo nào cả. Tối hôm qua lúc chạy pháo, phần vì gấp gáp, lười muốn cho nhẹ, phần vì dân trinh sát thì luôn được một ưu tiên (để bù lại cho những hiểm nguy của lính tiên phuông) là không phải mang ba lô quân trang và gạo chỉ cần mang đủ trong thời gian họat động độc lập, còn khi sát nhập vào đội hình với bộ binh thì quân trang sẽ có xe cơ giới mang đến giùm (do hậu cần tiểu đòan lo) và gạo thì cứ đến hậu cần mà lãnh về....nên... Thế nhưng, do đánh nhanh quá nên sáng hôm đó đòan xe của lực lượng hậu cần ở Mimot vẫn chưa lên kịp….thế là…
Có thịt gà kho hành lá : Lấy nồi lớn, thịt gà chặt thành từng cục, kho chín. Hành lá nhổ nguyên cụm, tước rửa sạnh rồi tọng cả vào nồi thịt gà kho…tiêu xanh hái trên dàn xuống đập dập bỏ vào…thơm nứt mủi…mà các bạn phải biết rằng thì là cái giống gà K, nó giống như con gà rừng (bạn nào chưa biết gà rừng thì cứ tưởng tượng đến con gà tre) nhưng to hơn một chút, thịt cứng hơn gà ta nhưng chắc và rất ngọt, ngọt ác chiến….
Có rau: Lấy mấy tàu lá chuối rửa sạch trãi trên mặt đất làm mâm đĩa, các lọai rau cải chất đống lên, ngòai ra còn một mớ lá xòai non nữa…tươi chong, hấp dẫn, đẳng cấp đến độ là nếu mà cái mâm rau bánh canh giò heo NĂM DUNG ở Trảng Bàng mà có dịp hân hạnh diện kiến thì cũng phải gọi cái "Miên rau đại yến" của tụi tui ngày đó bằng "ông cố tổ đại gia gia" !
Mà không có cơm ! mà không có có cơm thì còn trời đất gì nữa với đòan "Đại Việt Quốc Tế Nghĩa Vụ Quân" nầy nữa !
Nổi khùng, tôi đã làm một chuyện mà thú thật các bạn, bây giờ…sau khi đã nam bắc đông tây, đã đời làm bao nhiêu chuyện, bằng khen, huy chương nội ngọai cũng có đủ và khi mái đầu đã phai bạc ở tuổi "tri thiên mệnh" thì tự trong lòng mình, tôi vẫn luôn đắc chí mà chân thành tự nhận xét rằng đó là cái thành tích đáng kể nhất của đời mình, so với chuyện nầy, tất cả các thành tích khác chỉ là chiếc giày rách mà thôi…
Mất khôn vì đói, vì có thức ăn mà chẳng có cơm, vì có "tửu" mà không có "sắc" (như trong một vở chèo hài), tui đã đá một phát vào cái ống đựng đạn pháo 155 ly (đây là một cái ống bằng thép rổng để chứa viên đạn pháo 155 ly của US Army. Đường kính chừng 200 ly, dài 0,8 mét) mà người chủ nhà đã dùng chừng một chục cái đóng xuống đất xung quanh cái nhà sàn, vừa để ngăn trâu bò, vừa có thể dùng làm cái ghế ngồi chơi trước nhà. Chân đá vào thép thì dĩ nhiên là chân đau, càng khùng hơn, nhưng rút kinh nghiệm, tui phang tiếp một chưởng nữa vào cái ống thép mất dạy cứng đầu, nhưng lần nầy là bằng cái báng súng AK…hai thứ cứng chạm nhau mà sao tiếng kêu nghe trầm đục, không thanh thót hoặc chói tai như khi lão trực ban gỏ kẻng báo thức chút nào ? Máu Sê Lốc Cốc nổi dậy, tôi lấy chân đạp (lần nầy "đạp" chứ không "đá" – tiếng Việt ác chiến chưa. Tiếng Anh phân biệt Kich-đá với xxx-đạp như trong ngữ cảnh ra sao ta ??? to trample, to stamp thì không "đã" chút nào) cho cái ống vỏ đạn bật ngang thì…trời đất ơi, trong đó tuôn ra một dòng gạo trắng tinh…tiếp tục các ống khác cũng thế. Thì ra đây là chiêu "tiêu thổ kháng chiến " bên K. Thế là:

Có cơm, có thịt, có rau…
Trên đời hỏi có ông nào hơn ta

Như đã kể lể hòan cảnh ở trên…bữa đó, tôi đã có một bữa ăn ngon nhất trong đời.
"…Về sau và ngàn năm sau nữa
Có xực thì cũng không, bao giờ bằng hôm nay…"
(xin lổi nhạc sĩ Vũ Thành An)

Sau bữa cơm nhớ đời đó thì đến cái màn mà bất cứ chiến binh nào cũng ngán&amp;ghét nhất nhưng nhất định, bắt buộc phải làm….đó là….đào hầm. Đất vùng nầy là đất sỏi đỏ, vốn đã cứng, mà chổ tổ tụi tui được bố trí lại là một cái gò gần một bụi tre thì lại càng khô khốc và cứng ngắc ngỏai luôn. Cố gắng lắm thì cũng đào được đến ngang bụng thì tụi tui (tui và thằng Phú – hai thằng chung một hầm) cũng quyết định tạm ngưng, mặc cho ông trung đội trưởng cằn nhằn hậm hực.
Mặt trời tháng chạp xuống nhanh, rồi màn đêm buông xuống một bóng đen mịt mùng kìn kịt. Đêm trên đất K là những đêm không một đốm lửa, không một tiếng động của con người, không thuốc lá (nhờ thế mà tui đã bỏ được thuốc lá), không đầu gió, dầu xanh gì cả…hơi thở phải thật nhẹ, trao đổi bằng thủ hiệu (ra dấu bằng tay)…kẻ nào để bên kia phát hiện mình trước thì có khả năng sẽ được ghi ơn - tưởng niệm trong ngày 27/7 hàng năm ngay.
Thằng Phú thường được tui nhường cho cái "tiện nghi" là được gác trước vì nó có tật là sau khi ngủ thì thường có tật thần hồn nát thần tính. Lúc ở Kà Tum, vì cái tật nầy mà vào một phiên gác nữa đêm, nhìn thấy bụi cây bị gió lay mà nó cứ tưởng lính K bò vào và nhanh nhẫu đỏan phang cho "tên K bụi cây" một quả lựu đạn Liên Xô. Đã vậy nó còn "quá tay", nên trái lựu đạn rơi nổ gần cái hầm cua BCH tiểu đòan – lúc đó mấy ảnh đang họp mới chết chứ. Mọi người không sao nhưng cũng một phen hú vía…và từ đó thằng Phú có biệt danh là "PHÚ TẬP KÍCH"…
Trở lại Snoul, đến chừng nửa đêm, thằng Phú bổng lay tôi…dậy và nói thầm vào tai tôi:
- P. mầy có nghe gì không ???
Định thần, thì quả thật tôi có nghe những tiếng lốc cốc – lộc cộc khá rỏ phía ngoài tuyến bên cánh phải của hầm tụi tui.
- Chắc tụi K bò vô ! Tao độp (bắn họăc ném lựu đạn) nhe. Thằng Phú tiếp tục thì thầm.
- Khoang !
Rút kinh nghiệm lần bị chưởi kỳ trước, vả lại phía đó lại là hướng hầm của tiểu đội 1 đang án ngử (nếu tụi tui khai hỏa về phía tiếng động thì hỏa lực sẽ "cháy sườn" của đội hình A1) nên tui cản thằng Phú. Tiếng động càng dồn dập và rỏ hơn…hai thằng chưa biết quyết định thế nào thì…
Bổng có ánh chớp nhóang sáng rực rồi …Ầm ! Đùng ! Tằng...tằng…tằng…tiếng các lọai súng cá nhân và hỏa lực (B40, B41, M79, lựu đạn…) vang lên lọan cả một góc đội hình…Bên A1 khai hỏa rồi…theo như kế họach tác chiến phòng ngự thì khi đó chúng tôi có nhiệm vụ phải canh giữ mặt của mình, tránh cho A1 và BCH trung đội bị hở sườn. Tiếng súng nổ sau một hồi rộ lên thì im bặt một chút, rồi lại vẫn cái tiếng "lốc cốc lộc cộc " lạ lùng ban nãy vang lên từng chập! Lạ lùng vì ở những trận trước, khi chạm tráng ban đêm, để cướp tinh thần bên mình, lính K thường hay la "Hù…Hụ…" chứ không có gỏ mỏ như lần nầy…thế là bên A1 lại khai hỏa tiếp từng chập và tụi tui lại căng mắt chờ đến phiên mình…
Bây giờ thì một niềm hối hận chân thành nhất thế giới đang ngự trị trong lòng tui và thằng Phú cho cái tội làm biếng đào hầm lúc ban ngày…Tui có cố co người cách mấy thì cũng còn nguyên cái "thủ cấp" trồi trên mặt đất….còn thằng Phú càng thê thảm hơn vì nó vốn cao giò ( cao 1,78 mét) nên cố cách mấy thì nó cũng còn nguyên cái "bán thân bất tọai" của nó tênh hênh sẳn sàng ăn đạn nếu lính K buồn tình mà đổi ‎hứơng sang phía tụi tui…thế nhưng không hiểu sao….cái tình trạng ấy cứ lặp đi lặp lại tới sáng….và tất nhiên tụi tui cũng còn "phúc an khang".
Một trận chiến kỳ cục phải không các bạn…Chiến tranh Việt – Kh'mer Đỏ là một cuuộc chiến tranh nhà nghèo. Ban đêm không có trái (pháo) sáng, càng không có trang bị hồng ngọai hay bộ đàm cá nhân như trong phim Rambo…nên mọi sự tỏ tường…phải chờ đến khi bác mặt trời trở lại.
Và các bác biết cớ sự như thế nào không ?
Cả đêm qua A1 và cả tiểu đòan chúng tôi mất ngủ là để chiến đấu với một…..con trâu !
Số là trâu bên K cũng giống như trâu ở các vùng dân tộc ở ta. Họ không cần phải chăn dắt gì mà chỉ cần cột vào cổ con trâu đầu đàn một cái mỏ, thường cũng bằng sừng trâu, và cứ để chúng tự lang thang vào rừng kiếm ăn. Các con trâu trong đàn cứ theo tiếng mỏ con đầu đàn mà tụ bầy, không bị lạc. Khi cần tìm thì chủ trâu cũng chỉ cần lần theo tiếng mỏ. Đến chiều thì chúng tự tìm về. Chú trâu đầu đàn của Phum là một thủ lĩnh "trình độ". Chiều khi quay về đầu Phum, chắc thấy chúng tôi lạ nên nó không vào…Đến tối…vì cũng còn hơi bị *** như "bò", nên nó quên béng tụi tui và lửng thửng "tìm về gác trọ". Phúc cho anh chàng chiến binh hậu duệ của Tôn Tử (trong trận Ngưu Đao: Dùng trâu cột đao vào hai sừng, đốt bùi nhùi đuốc cột ở đuôi rồi xua vào đội hình quân địch) và cũng là "vợ hai bốn vó" (theo thuật ngữ chuyên môn của diễn đàn Otosaigon) của Tôn Tẫn là lúc vô tình xông trận, "ngưu anh hùng" lại lủi vào phía bên kia bụi tre có cái gò mối rất to trước đội hình A1, cho nên, khổ thân cho tụi tui vì mặc cho lính ta chơi đủ lọai hỏa lực sáng đêm nhưng nhờ có bụi tre gò mối đở đạn nên "Ngưu Ma Vương" bên nớ vẫn an tòan mà cầm canh gỏ mỏ…
Chuyện nầy có thật 100% đó. Các bác phải công nhận, tin tưởng thì tui mới kể tiếp hồi kế có tựa đề là:

Vu hồi kế tiền phương thọ khổn
Dĩ quân xa giải cứu mỹ nhân


Đã ba Ngày ở ngọai vi Snoul, vẫn là thăm dò trinh sát, tập kích pháo cối lẻ tẻ…ở vai trò một chiến sĩ, tôi chỉ có thể mường tượng về tình thế của tòan trận chiến…giờ đây, khi đưa ra những nhận định có tính tòan cục sau đây, thì thực tình đó cũng chỉ là những vỏ đóan. Nhưng thôi thiệt tình nghĩ sao nói vậy, đúng sai các bạn sẽ góp ‎‎lời cho mọi việc tường minh thêm.

Bên ta, sau khi tiến nhanh và có những thành quả chiến dịch như đẩy quân K'mer Đỏ về sâu trong đất của họ, xác định khả năng tác chiến và những đặc điểm của đối phương, chiếm lĩnh được các cứ điểm chiến thuật (Mi Mot – Tà Not – Snoul – Lăng CàBơ…) và giờ đây đang bố trí lại đội hình cho một mục tiêu xa hơn : SaLung - Kra T'chê . Theo thông tin nghe lóm của mấy anh cán bộ tham mưu thì hình như đây là một thị xã quan trọng nằm cạnh bờ sông Mekong vùng đông bắc Kampuchia tiếp giáp vùng Chup, một vùng đồn điền cao su mênh mông của Kampuchia, nơi đang có sự tập trung của những lực lượng "K'mer yêu nước kháng chiến" (tạm gọi như thế) họat động chống lại sự thống trị của Anka – Kmer Đỏ. Nếu đúng như thế thì tình thế của nhân dân Kampuchia sẽ có một thay đổi quan trọng, khi mà lực lượng nầy liên lạc và nhận được sự tương trợ của VN. Tất nhiên chuyện nầy chỉ có thể xảy ra khi quân VN tiến được đến SaLung - Kra T'chê. Còn phía K'mer Đỏ, sau khi có những bước rút lui chiến thuật, thì giờ đây, khi quân VN đã vào đủ sâu trong đất của họ, tiếp tế, yểm trợ hậu cần càng lúc càng khó khăn hơn, lực lượng đã có những tiêu hao, mệt mỏi nhất định thì…có lẽ đã đến lúc họ muốn tung đòn cho một trận thư hùng quyết định...

Chuyện xảy ra là vào lúc chừng 5 giờ sáng, ở ban chỉ huy tiền phương Exx – một trung đòan bạn trong đội hình chiến dịch lúc đó đóng ở mạng bắc Snoul. Mặc dù đã bố trí các tiểu đòan bộ binh ở ba mặt trước hai bên QL7 còn BCH và đại đội hỏa lực cối 82 mm, trọng liên 12,8 mm, và một khẩu đội pháo 155 mm của sư đòan đóng kết hợp ở một cánh rừng cao su ở phía sau…nhưng một đơn vị của K đã luồn qua các đơn vị của ta và bất ngờ tập kích vào BCH Exx. Khi địch tiến công, do không có lực lượng tác chiến đủ sức đương cự nên các xạ thủ trọng liên 12 ly 8 chỉ có thể nổ súng cầm chân địch trong vài phút, thời gian đủ để BCH rút lui (tôi có thằng bạn nối "quần tà lỏn" kế bên nhà, nó nhập ngủ NVQS năm 1976 và là xạ thủ đại liên trong trận nầy. Lúc đó, sau khi quất hết thùng đạn thì nó nhanh trí phi ngược về một khỏang trống hướng quân K và cuối cùng đến được nơi đóng quân của các tiểu đòan bộ binh phía tiền tuyến và an tòan. Thế nhưng Đại đội hỏa lực của nó sau khi tập kết về phía sau thấy mất nó…một thằng bạn bị thương được đưa về tuyến sau điều trị sau đó đã nhanh nhẩu đỏan về nhà "báo tử" với gia đình. Báo hại cô người yêu của nó đến nhà khóc hết nước mắt và ba tháng sau …đi lấy chồng…!) rồi thì trận địa bị quân K tràn ngập và chiếm lĩnh. Có 3 cô TNXP do núp dưới hầm và chậm chân nên không thóat kịp và đã bị bọn K bắt sống…
Nhận được tin dữ, nhất là khi biết còn kẹt ba cô TNXP và cả khẩu đội pháo 155 ly bị chiếm…Ban chỉ huy E GĐ đã có một quyết định táo bạo và ơn trời, diễn biến thực tế đã cho thấy đó là một quyết định "tài hoa" của chú Hai Đ. Trung Đòan Trưởng. Số là khi đón tiếp BCH Exx thóat về, nhận định lúc đó chỉ có D1 (Tiểu Đòan 1 Quyết Thắng – Tiểu đòan Anh Hùng LLVT đầu tiên của LLVT SG-GĐ) là đóng quân gần nơi mà quân ta và các "mỹ nhân" đang "thọ khổn" nhất, Chú Hai Đ. Đã điều một đại đội của D1 và cho hành quân bằng 3 quân xa GMC và chơi đẹp cho luôn chiếc Jeep Lùn (thường khi là vợ hai của chú ấy) có trang bị khẩu M60 và một xạ thủ làm hỏa lực tiên phong. Chắc quân K chưa bao giờ gặp và tưởng tượng rằng quân VN lại có cái kiểu chỏang nhau như thế nên…khi các giặc lái ta cho xe phóng hết ga vào áp sát trận địa chừng 50 mét và khẩu M60 bắt đầu quét đạn ào ào trên…đọt cao su ?!?! và bộ binh ta nhào từ trên 3 chiếc GMC xuống hô XUNG PHONG…thì lính K mới biết chuyện gì đang xảy ra và… chỉ còn nước lủi thật nhanh vào rừng giống như lúc đến. Chắc các bạn đang nóng lòng muốn biết "số phận" của các "mỹ nhân" chứ gì. Có ngay! các nàng còn nguyên, bị cột trên các nòng pháo 155 ly và đang...xỉu ! Các bạn biết không, dù được giải thoát an tòan và đưa về tuyến sau, thế nhưng nghe mấy đứa bạn bên quân y kể lại sau nầy là phải 3 ngày sau các nàng mới bớt hỏang lọan và ăn uống lại được. Tôi thật không dám tưởng tượng là nếu D1 đến chậm và trong lực lượng K có tên nào nhanh tay biết bắn pháo 155 thì cái sự thể "ngọc nát vàng tan" nó sẽ như thế nào đây ? Và đến đây chắc các bạn cũng đã thông cảm cái duyên cớ mà anh chàng xạ thủ M60 chỉ xổ đạn trên đọt cao su. Thì ra anh chàng chỉ muốn hù cho lính K hỏang hồn chứ không dám phang vào đội hình địch vì sợ phạm tội "vũ phu" vì lúc đó các mỹ nhân TNXP và 3 khẩu 155 ly đang ở giữa đội hình địch.

Chiều nay, tháng chạp ngày đưa ông táo về trời, tôi có việc về Bình Phước, bây giờ cũng là "cao su mùa lá bay"…tôi bỗng nhớ về kỷ niệm nầy và bài thơ của thi sỹ chiến binh Chính Hữu:

Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đõ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dậm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa.  

Anh hùng tử khí hùng nào tử
Mệnh trượng phu vị quốc vong thân


Anh hùng tử khí hùng nào tử
Mệnh trượng phu vị quốc vong thân

Sau trận “nắn gân - tập hậu và giải vây tốc hành” ấy thì rạng sáng ngày hôm sau cuộc chiến thực sự quyết định giữa quân VN và K đã nổ ra. Chiến trường chính là một dãi đất dọc QL 7 về phía bắc Snoul, con đường dẫn đến thủ phủ Salung-Krache, có địa danh là Cát-Đai. Đó là một Phum cách Snoul chừng 4 km với những căn nhà sàn nằm xen lẫn trong những tàn cây chạy dài hai bên QL7, phía sau dãi nhà là những cánh đồng nhỏ khô cằn rồi tiếp giáp là rừng.
Những ngày đầu, vùng nầy là hướng tiến công của Exx và D Gò Dầu thế nhưng qua 5 ngày so găng và nhất là sau trận tập kích hôm trước thì rỏ ràng là lực lượng VN không đủ để có một trận chiến cân sức. Như thế, Trung Đoàn Gia Định từ mạn tây nam của Snoul đã được điều lên tăng cường cho hướng nầy.
Ngày đầu tiên chuyển sang mủi nầy thì tổ tụi tui vẫn đóng trong đội hình với BCH tiểu đoàn, thế nhưng ngày hôm sau thì mọi việc diễn biến càng lúc càng ác liệt. Hai đại đội 2 và đại đội 3 thế chổ cho D Gò Dầu đã hứng chịu một cuộc tấn công dữ dội của một trung đoàn quân K’mer đỏ. Anh Ba T. tiểu đoàn phó kiêm tham mưu trưởng tiểu đoàn được điều lên “đốc chiến” cũng phải ở lại không thể về lại BCH do đường 7 cũng bị bên K cắt đứt. Trận chiến không cân sức đã diễn ra suốt từ sáng sớm đến chiều tối. Bên mình dù quân số ít hơn nhưng nhờ có hầm và mệnh lệnh “kỷ luật chiến trường” nên vẫn còn trụ vững mặc dù cũng đã có một số thương vong…

Đến chừng 7 giờ tối thì tổ tụi tui nhận được lệnh đi cùng một tiểu đội súng cối với sự dẫn đường của trinh sát trung đoàn đi lên trận địa. Nhiệm vụ là nắm tình hình, hộ tống anh Ba T. về họp bàn chiến thuật với BCH tiểu đoàn và (tổ trinh sát tụi tui) mang nước, lương khô tiếp tế cho hai đại đội trên đó và (tiểu đội cối) tải thương binh về tuyến sau .

Triết thuyết của các tôn giáo thường dạy rằng: Ai mà trong cuộc đời có nhiều tội lổi thì khi chết sẽ bị xuống hỏa ngục…Con đường đi xuống hỏa ngục đó nếu có thì chắc chắn là sẽ giống như con đường mà đêm nay chúng tôi đang đi…Trời cuối năm, từng cơn gió se lạnh và khô thổi vuốt qua cánh đồng và những tàn lá hai bên đường và làm bùng đỏ lên những đám lửa của những căn nhà đang cháy rực. Mái, vách đã ra tro nhưng những cây cột do được chôn sâu xuống đất và thường được làm bằng gổ cứng nên vẫn đứng sửng và trong đêm đen vẫn rực lên ánh lửa đỏ than hồng. Ánh lửa, tiếng gió rít, mùi hăng nồng của khói tro, của thuốc súng…tất cả đã tạo cho thần kinh chúng tôi, những chiến binh đã qua “thử lửa”, một cảm giác vừa căng cứng, vừa như mất thăng bằng và sự tự chủ…từng bước chân như đi trong hư vô mặc dù tụi tui vẫn phải hết sức tập trung vì biết rằng quân K đang lẩn khuất đâu đó hai bên đường. Đây là đất của họ, họ rất thông thuộc đường đất, và sẽ dễ dàng làm thịt tụi tui nếu họ đủ gan và biết chọn đúng chổ phục kích…Trên mặt đường vương vãi ngổn ngang những vỏ đạn SKZ 75 (đại bác không giật của US-ARMY) và DK 82 (đại bác không giật của LX), mấy ông bạn bên tiểu đội cối vốn chỉ quen “đi sau - vác nặng”, nay phải liều mình đi vào đất địch như một khinh binh (khinh: nhẹ) nên cứ thỉnh thoảng lại đá vào mấy cái vỏ đạn và lại một phen làm cả đám hết hồn vì lo bên K phát hiện ra tụi tụi đang len lỏi qua đội hình của họ. Có những chổ tụi tui đi gần đến mức nghe rỏ cả tiếng đào hầm của lính K, tuy nhiên mấy ông anh bên trinh sát trung đoàn đã trấn an tụi tui rằng: “Đừng có lo, cứ đi thật êm, trời tối tụi K cũng không dám mò đi lung tung đâu vì nó cũng sợ mình phục kích…” Cứ thế, dù con đường hỏa ngục tưởng chừng như vô tận rồi cũng được vượt qua…Bây giờ nhớ lại, tôi mới tận ngộ rằng, vì sao trong mùa hè đỏ lửa của cuộc chiến tranh VN đã xuất hiện những cái tên ấn tượng như “Đại lộ Kinh hoàng – QL 13 Bình Long ”, “Đại lộ Hoàng Hôn – Dãy phố Buồn hiu - Quảng Trị”…Khi đến nơi, cảm nhận được nỗi vui mừng của những đồng đội khi được tiếp tế nước và lương khô qua những cái nắm chặt tay thật lòng thì bao nhiêu mệt nhọc và căng thẳng của đoạn đường máu lửa như đã được gội rửa gần hết...
Chuyến về cũng gian nan tương tự nhưng mấy ông bạn lính Cối không còn than vãn nặng nề gì nữa, bước chân hình như đều hơn, nhanh hơn vì trỉu nặng trên vai họ và vời vợi thời gian mà họ đang vượt qua sẽ là sinh mạng của những đồng đội thương binh…Chúng tôi đã đi không nghỉ và cảm thấy sao thật mau, cả bọn đã về đến BCH tiểu đoàn.

Sau buổi họp của BCH tiểu đoàn về kế hoạch ngày mai thì…tổ tụi tui đã nhận được một nhiệm vụ mà sau nầy tụi tui cứ nói đùa với nhau là như hồi “quá ngũ quan trảm lục tướng” của Ông Quan Vân Tường. Nhiệm vụ là: Hộ tống BCH tiểu đoàn “xông trận”, tức là thay vì ở tuyến sau cùng với Đại Đội 1 (C1) theo kế hoạch cũ thì BCH tiểu đoàn sẽ cùng tổ chúng tôi đêm nay bí mật đi lên tuyến trên với C2 và C3 để sẳng sàng cho trận quyết chiến ngày mai. Nghĩa là tụi tui lại một lần nữa phải trở lại con đường hỏa ngục nhưng với một trách nhiệm nặng nề hơn là phải bảo vệ an toàn BCH tiểu đoàn trên suốt con đường xuyên qua đất địch. Thế là lại mò mẩm nhưng cũng đỡ khồ hơn lần trước là vì các anh trong BCH tiểu đoàn đều là những chiến binh dạn dày kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến trước 1975 nên kỷ năng “…băng lau lách xuyên đêm…” của mấy ảnh quá ngon lành thành ra mọi việc lại êm re hơn chuyến đi lần trước…

Đêm đó…sau khi đến nơi, tổ tụi tui đã được giao một nhiệm vụ thực sự “lạnh lưng”. Ở chiến tuyến của C3, tổ chốt ở vị trí gần quân K nhất đã bị thương toàn bộ. Hầm chốt chiến đấu vẫn còn nhưng người thì không ! Lúc đến nơi, ông trung đội trưởng trung đội 1 của C3 (B1) mới dẫn tụi tui ra (lúc ấy là chừng 21 giờ đêm, trời tối như mực tàu…) và nói:
- Bên kia bụi chuối, cách chuồng trâu (lại trâu !) 10 mét là cái hầm dành cho mấy ông. Hồi chiều khi rút thương binh thì nó còn trống. Bây giờ thì không biết tụi K có chiếm nó hay chưa. Mấy ông cứ bò ra đó, phang mấy quả lựu đạn rồi chiếm lấy hầm mà thủ cho tới sáng nhé…
Từ trên trời rơi xuống, mà còn đánh “mò” theo kiểu “bịt mắt bắt dê” nầy thiệt là hết biết (thời đó chưa có từ “botay.com”), thế nhưng, trong hoàn cảnh mà sinh mạng của cả đơn vị từ cán bộ đến từng chiến sĩ đều ngàn cân treo sợi tóc nầy thì không có đất cho sự cân phân, so bì… tồn tại. Thôi thì….”…cũng liều nhắm mắt đưa chân…” (cụ Tiên Điền “độc chiêu” là ở chổ nầy: Trong hầu như bất kỳ hoàng cãnh éo le nào, ta cũng đều có thể mượn lời của cụ để thì là mà…trang trải nỗi lòng một cách đã đời cô Lựu )…thế nhưng, sự thể thì cũng không đến đỗi. Bên K có lẽ cũng “ngán càng” sau một ngày máu lửa nên khi tụi tui bò đến thì cái hầm chốt vẫn im ắng, chẳng có “ma” (sống) nào “trụ trì” cả. Tụi tui tiếp quản chốt im re, thế nhưng có một vấn đề nhỏ. Đó là hầm quá nhỏ. Thằng Phú không thể nào an trí cái thân theo chuẩn người mẫu nam của nó vào hầm nên tụi tui đành ưu tiên cho nó về tuyến sau (BCH C3) còn tui và thằng Cắt cố thu mình chịu trận tại chốt.

Sau một hồi, mắt dần quen với bóng đêm, bóng tối không còn tạo cảm giác hoàn toàn phủ vây như lúc đầu, thế nhưng đêm vẫn là đêm nín thở. Các bạn biết đấy, thở là bản năng của con người, thế nhưng trong hoàn cảnh đêm nay, tôi phải nhớ, phải điều khiển và ráng lắm mới giữ cho hệ hô hấp mình làm tròn nhiệm vụ của nó…
Trước mặt, cách tụi tui chừng hơn chục mét là một đám cây rậm, phía bên kia một chút là một cánh đồng hẹp rồi tiếp giáp là rừng (cảnh vật nầy thực ra là sáng hôm sau tôi mới thấy). Còn lúc đó, tất cả chỉ là một bức màn đen bí hiểm. Chỉ có những tiếng động, những tiếng côn trùng ngắt quảng, rồi đôi lúc, bất chợt lại một chú lợn thả rong lại chạy ủn ỉn qua…để ngón tay của tui lại ngọ ngoậy trên cò súng…Bắn chậm (khi lính K bò tới) thì chết, nhưng bắn nhầm (vào heo, gà, hay một bóng cây động gió…do thần hồn nát thần tính, để lộ vị trí trong đêm =&gt; địch ném lựu đạn) thì cũng có thể chết…Trong những tiếng động đêm thâu đó, thỉnh thoảng lại có những tiếng lục cục, những tiếng ho…vọng về từ phía bên kia hàng cây trước mặt. Những âm thanh thực ra cũng bình thường trong những đêm hòa bình mất ngủ sau nầy….nhưng khi ở tuyến đầu, thì chúng có hiệu quả khủng bố không thua gì một đoạn phim ngắn (video clip) chiếu cảnh hành quyết con tin của AQ. Trên đài Al. gửi đến các công dân phương tây bây giờ trong cuộc chiến vùng Vịnh.
Chúng tôi (bộ đội VN và họ lính K. đỏ) phải thức suốt đêm nay, trong một đêm toàn bóng tối, cố hô hấp trong cảm xạ nghẹt thở… có lúc mong cho đêm mau qua, có lúc mong cho thời gian chùng lại, một mong muốn bản năng…vì chẳng biết trong cuộc trải thân với tử sinh ngày mai rồi ra sẽ như thế nào.
Nhưng rồi cái cơn buồn ngủ của những cơ thể trai tráng tuổi đôi mươi sau một ngày trời bương chải cuối cùng cũng thắng cái sợ chết. Tôi và thằng Cắt cuối cùng quyết định: Chỉ một thằng thức để canh, thằng còn lại ngủ. Một chập ngủ cho bây giờ và cho ngày mai. Khi nào mắt của thằng thức không chống lên nỗi thì lay thằng kia dậy đổi canh. Muổi cắn, ngứa ngáy, khát nước, tê tay chân….không còn tác dụng gì cả…Chỉ tỉnh thức và ngủ vùi…cho hết một đêm…
Thực tình cho đến giờ, tôi vẫn không biết đêm ấy thực ra là dài thiên thu hay chỉ là phù du khoảnh khắc.

Dù sao thì đêm cũng qua. Khoảng vừa mờ sáng, chưa kịp hít lấy bầu không khí thơm mùi cỏ sương mai dịu thơm thì….những loạt chớp lửa hầu từ mọi phía xẹt về phía tụi tui và ngay sau đó là những tiếng nổ chát chúa và rồi mùi khét lẹt của thuốc súng cũng ập tới bao trùm cả không gian. Trời đất! thì ra suốt đêm qua, tụi tui và bọn K chỉ ở cách nhau chừng 20 mét, đội hình của chúng ở ngay phía sau hàng cây trước mặt chúng tôi, còn hầm của tui và thằng Cắt ngồi thì trống lốc, chỉ an ủi một chút là bên trái hầm có bụi chuối te tua tơi tả. Vừa kịp định thần thì phía cánh trái của tụi tui, mấy ông bạn bên C3 thổ địa cũng bắt đầu đáp lễ điểm tâm bằng những loại AK cắt chéo và rồi nhịp nhàng từng chập B40, M79 tróc nã về phía bọn K đang ăn hiếp tụi. Tui và thằng Cắt vừa thay băng đạn thứ nhất, chưa kịp phang tiếp thì đã nghe phía sau, một ông A trưởng (tiểu đội trưởng) của C3 vừa chạy khom tới và gọi tụi tui:
- Rút, rút…mấy ông trinh sát ơi !
Do hôm qua đã được “quán triệt” (ra lệnh một cách rỏ ràng dứt khoát) là không được bỏ chốt khi chưa có lệnh nên tui hỏi gặng lại:
- Ông kêu rút, hay lệnh của trên kêu rút ?
- Trời đất bộ giỡn sao cha, cánh mình chuyển qua đánh mủi phía bên kia đường, kềm hông, để bên nây cho C1 và tăng ( xe tank) ở dưới quét lên. Lệnh của tiểu đoàn đó!
Tôi và thằng Cắt thăng thiên ra khỏi hầm còn nhanh hơn cả tên lửa Kachiusa rời bệ phóng, lao theo người đồng đội C3. Đến một căn nhà cạnh đường, nhìn lại phía sau, chổ hầm của tụi tui giờ phủ một đống bụi khói trắng sau một tiếng nổ ầm trời. Khi thằng Cắt theo những người tốp cuối băng qua bên kia đường thì tôi cũng rời vị trí đoạn hậu (vị trí làm nhiệm vụ giữ phía sau bảo vệ đồng đội rút, cảnh giới phòng địch đánh theo từ sau lưng) lao nhanh theo họ. Vừa kịp qua đường xong, nhìn lại thì căn nhà chổ tui vừa ém lúc đoạn hậu cũng vừa bùng cháy lên do trúng đạn cối hay B41 gì đó. Theo kế hoạch thì cánh C2 và được C3 cùng tụi tui bổ sung sẽ bố trí đội hình bên cánh phải đường theo hướng từ Snoul lên Katdai, kềm giử, một mặt chờ C1 và tăng lên ngang sẽ cùng tiến, một mặt chờ nếu bọn K bên trái đường nếu dạt ngang thì sẽ đánh hốt trong thế có hầm và đội hình ổn định đánh quân vận động.
Cái hầm mà tụi tui tạm trú lúc nầy cũng là chiến tuyến những ngày hôm trước của C2. Phía trước hầm là một vạt cỏ tranh đã bị đốt cháy chỉ còn lại là một đám tro đen…và…khét lẹt, tanh nồng…còng queo phía trước tụi tui chừng mười mét, trời ạ, là một xác lính K. Tên nầy có lẽ là cái tên chạy hung hăng nhất, chạy nhanh nhất và đến được gần phòng tuyến của C2 nhất và…ăn đạn nhiều nhất. Kết quả là dù cho hàng chục đợt xung phong sau đó thì bọn K vẫn không thể nào lấy được xác tên nầy. Trời nắng, cái xác mau bốc mùi (các bạn cứ tưởng tượng cái mùi chuột chết rồi nhân lên mười lần thì sẽ phần nào “cảm tưởng” được cái mùi xác người chết nó như thế nào), chịu không nỗi thế là một ông mình “sáng kiến” giải quyết bằng cách thử đốt cỏ tranh để làm món “K. đỏ BBQ.” ( BBQ.: món thịt nướng than hồng ngoài trời theo kiểu USA). Thế là bây giờ không chỉ là mùi tanh tưởi của xác chết bình thường nữa mà là một mùi tanh khét lẹt xộc vào tận óc o mổi khi gió thuận chiều về phía tụi tui. Trong tình cảnh đó, trong đời lính, tôi thực tình chưa bao giờ lại mong sao mau mau được lệnh tiến công đến thế. Thế nhưng trớ trêu thay, cánh bên nây lại im re, có chăng chỉ là những tiếng rít của đạn pháo, đạn cối từ phía sau, vút qua đầu chúng tôi mà dập về phía trước xa về phía đội hình của bên K.

Tuy nhiên phía bên kia đường thì tình hình lại khác hẳn. Phần câu chuyện đoạn nầy tôi không tận mắt chứng kiến dù chỉ ở cách chừng vài trăm mét. Tôi chỉ xin ghi lại theo lời kể của những người trong cuộc. Có điều tính trung thực của câu chuyện thì các bạn có thể tin cậy được vì đây là một CHIẾN LỆ ( diễn biến một trận đánh thật với những đặc thù có tính tiêu biểu, được ghi nhận lại từ nhiều người trong cuộc (từ chiến sĩ đến cấp chỉ huy) tường trình, được đánh giá, đúc kết một cách khoa học để làm bài giảng cho các trường quân huấn và thậm chí có thể được ghi vào quân sử nếu hết thời hạn giải mật hoặc xét thấy không cần giữ bí mật).

Như đã kể ở trên sau khi chúng tôi chuyển qua cánh phải thì ở cánh trái, nơi tập trung lực lượng của bên K, C1 với một phân đội xe tăng T54, xe bọc thép M113 đã đánh ép từ dưới Snoul lên dưới những làn pháo 105 mm bắn chụp chận yểm hộ từ phía sau. Trong đội hình tiểu đoàn chúng tôi (D2 – E Gia Định) C1 là đơn vị anh cả, dầy dạn nhất. Dàn cán bộ khung hầu hết là những chiến sĩ, cán bộ đã trải qua cuộc chiến tranh trước 1975 và người đại đội trưởng, thiếu uý NGUYỄN ANH NHIỄN. Anh có một gương mặt hao hao như nghệ sĩ Thế Anh nhưng (thật sự) còn đẹp trai hơn. Vóc dáng tài tử, ăn nói bình thường thì rất nhỏ nhẹ tình cảm…thế nhưng nếu gần gủi và nhìn kỹ thì ta mới thấy ánh lửa dũng cảm trong đôi mắt sáng đôi khi loé lên như ánh thép của anh ấy…
Còn phía bên K, đối phương cũng là một đơn vị đáng tầm, nhất là về chiến thuật và sự gan lì để thực hiện kế chiến thuật đó.
Tưởng chừng như chịu không nổi trước áp lực của pháo, tăng và C1 nên một số lính K đã phải bỏ tuyến hầm dọc trong hàng cây (nơi xuất phát hỏa lực dập tụi tui hồi hừng sáng) mà chạy lui về phía cầu Katđai. Thấy thế, C1 tăng tốc truy kích, thế nhưng khi đội hình C1 vừa băng vào một đoạn trên cánh đồng lúa mùa vừa gặt xong (thân cây lúa mùa khá cao nên gốc rạ còn lại sau khi thu hoạch cũng còn cao hơn đầu gối) thì một đơn vị K đã phục sẵn trong những hầm cá nhân đào lẫn giữa đám ruộng bắt đầu nổ súng, đánh vổ mặt vào đội hình C1 đang vận động giữa đồng!!! Bọn K thật tinh quái, đã tạo thế bất ngờ khi mai phục giữa cánh đồng trống và nằm im suốt thời gian chỉ để chờ với mục đích “hốt gọn” C1. Bên mình hoàn toàn thất thế, địa hình trống trải, cự ly quá gần, địch có hầm, ta không… Một số chiến sĩ đã dính đạn, chuẩn uý L. đại đội phó bị đạn sượt qua đầu, máu tuôn xối xả, một số chiến sĩ đã phải nằm chúi xuống đất…khoảng cách giữa hai bên đã quá gần cho mọi sự thay đổi điều chỉnh đội hình hay tháo lui. Anh Nhiễn lúc nầy đã có một hành động, một hành động mà…thực sự tôi không biết có thể dùng một “khái niệm từ” nào để chỉ cho xác đáng…Anh đứng thẳng người giữa làn đạn, vung khẩu K54 lên trời, nổ liền mấy phát và hét to, ra lệnh cho chuẩn uý L. đại đội phó phải đứng dậy (vì anh thấy vết thương chỉ sượt ngoài da đầu…) và hô mọi người xung phong thẳng vào đội hình của lính K. Khí phách của người tướng chỉ huy trận mạc đã đã vực dậy tinh thần và tập trung sức mạnh của toàn Đại Đội. Mọi người đã đứng dậy xung phong theo lệnh của anh, họ lao lên nhưng anh thì ngã xuống khi phải hứng đến 4 phát đạn súng trường vào giữa ngực…Trung sĩ LÊ HOÀNG SƠN, trung đội trưởng trung đội 1 khi đó đã nhận lãnh vai trò chỉ huy (trong điều lệnh QĐNDVN quy định rằng, trong chiến đấu, nếu đại đội trưởng hy sinh hay mất khả năng chỉ huy thì đại đội phó sẽ đảm trách, kế đó là trung đội trưởng trung đội 1, rồi kế là trung đội trưởng trung đội 2…cho đến người cuối cùng.)
Và tiếp tục dẫn đầu toàn đại đội xông lên…những người chiến sĩ của C1 đã thật nhanh tràn vào đội hình bắn găm vào những tên lính K còn chôn chân trong những cái hầm giữa đám ruộng cuối mùa. Toàn bộ đội hình của lính K đều bị diệt tại chổ…một chiến thắng oanh liệt…nhưng sự hy sinh của người đại đội trưởng là quá lớn.
Xác Anh được các đồng đội đưa vào chiếc thiết vận xa M113 và đưa về tuyến sau vào buổi chiều hôm ấy….buổi chiều cuối năm, bóng chiếc chiến xa in trên nển cánh đồng lúa vừa gặt xong cuối mùa…

HẬU TỪ:

Vì một sự trúc trắc (trúc trắc chứ không phải trục trặc)... Mãi 20 năm sau (năm 1997). Khi vị chỉ huy tiểu đoàn 2 ngày ấy, anh Ba K. cấp trên trực tiếp của anh Nhiễn (cũng là anh hùng LLVT phong năm 1978 do thành tích trong kháng chiến), bấy giờ đảm trách cương vị Tư Lệnh Quân Khu 7, thì Liệt Sĩ – Thiếu Uý NGUYỄN ANH NHIỄN mới được truy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG. Quê anh ở Rạch Bắp – Huyện Bến Cát – Tỉnh Bình Dương. Anh hy sinh ở tuổi 25 khi còn độc thân. Cha anh cũng là liệt sĩ thời chống Pháp. Lúc đó anh còn một bà mẹ già…
"...mà đời sao bổng vắng, như rừng núi ngủ yên, như đồng lúa gặt xong..." (Ru ta ngậm ngùi - Trịnh Công Sơn)

Vị trung đội trưởng trung đội 1 LÊ HOÀNG SƠN, trong năm 1978 đã được phong danh hiệu Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây-Nam.

Phuni56 cựu binh bên Otosg
Theo: Vnmilitaryhistory
_______________

Bài liên quan:
Vụ án P.A.S - Tử hình TMP trung đoàn vì cưỡng hiếp gái Campuchia, 3/1979
Nghĩ lại về Chuyện tử hình Bộ đội tình nguyện VN hiếp dâm ở Campuchia. 


*****